Năm phương cách Trung Quốc có thể trở thành một nền dân chủ.

Ảnh: Flickr (maywong_photos)
Chẵng có nhiều suy nghĩ đứng đắn về khả năng và các kịch bản hợp lý khác nhau của một quá trình chuyển đổi chế độ ở Trung Quốc -- cho đến bây giờ.
 Minxin Pei. 13 tháng 2 / 2013.
Theo The Diplomat

BHM Lược dịch.

Suy đoán về tương lai chính trị có thể có của Trung Quốc là một hoạt động trí tuệ mà phải suy nghĩ đến một số và nhiều câu đố. Sự hiểu biết thông thường là rằng đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) khó có thể thay đổi, quá cương quyết bảo vệ và kéo dài mãi mãi độc quyền chính trị của nó, có tiềm lực để tồn tại trong một thời gian dài (mặc dù không phải mãi mãi). Tuy nhiên, một quan điểm thiểu số, cho rằng ĐCSTQ sắp tận số. Trong thực tế, một quá trình chuyển đổi dân chủ ở Trung Quốc trong 10 đến 15 năm tới là một sự kiện có xác suất cao.
Những gì đứng đằng sau quan điểm lạc quan này về tương lai dân chủ của Trung Quốc được tích lũy bằng kinh nghiệm lịch sử trong các quá trình chuyển đổi dân chủ của quốc tế (khoảng 80 quốc gia đã thực hiện các quá trình chuyển đổi từ chế độ độc tài đến những hình thức dân chủ và mức độ khác nhau trong 40 năm qua) và nhiều thập kỷ nghiên cứu khoa học xã hội mà từ đó đã mang lại những hiểu biết quan trọng ở sự năng động của quá trình chuyển đổi dân chủ và tình trạng thối rữa của các chế độ độc tài ( hai quy trình liên kết chặt chẽ ).

Đúng như thế, những người tin rằng chế độ độc đảng của Trung Quốc vẫn có đủ khả năng phục hồi để kéo dài nhiều thập kỷ cai trị có thể chỉ ra khả năng đã được chứng minh và to lớn của ĐCSTQ trong việc đàn áp ( yếu tố quan trọng nhất trong sự sống còn của chế độ chuyên chế ) , khả năng thích ứng với những thay đổi kinh tế - xã hội (mặc dù mức độ khả năng thích ứng của nó là một chủ đề đang gây tranh cãi mang tính học thuật), và thành tích mò mẫm của nó trong việc đưa ra những cải tiến kinh tế như là một nguồn gốc cho tính hợp pháp.

Với danh sách các lý do tại sao người dân Trung Quốc đành cam chịu sự cai trị độc đảng hàng thập kỷ sẽ là một tập hợp các yếu tố được chọn ra bởi những người đề xướng lý thuyết về thay đổi chế độ có thể dự đoán được ở Trung Quốc. Trong số rất nhiều trong những nguyên nhân của sự suy giảm và sự sụp đổ của các chế độ độc tài, có hai điều nổi bật.

Đầu tiên, đó là lập luận về tình trạng thối rữa của chế độ độc tài. Các chế độ độc đảng, tuy tinh vi, nhưng bị lão hóa và thối rữa từ tổ chức. Các nhà lãnh đạo dần dà yếu kém hơn (trong các lãnh vực khả năng và trách nhiệm ý thức hệ); những chế độ như vậy có xu hướng thu hút những kẻ tham danh vọng và cơ hội chủ nghĩa, loại người xem vai trò của họ trong chế độ dưới quan điểm của một nhà đầu tư : họ muốn tối đa hóa lợi nhuận của họ từ sự đóng góp duy trì chế độ và sự sống còn của họ. Kết quả là tham nhũng leo thang, quản trị trở nên xấu đi, và sự ghét bỏ xa lánh ngày càng tăng của quần chúng. Theo kinh nghiệm, sự phân rã tổ chức của chế độ độc đảng có thể được đo bằng tuổi thọ có giới hạn của những chế độ như vậy. Cho đến nay, tuổi thọ kỷ lục của một chế độ độc đảng là 74 năm ( của Đảng Cộng sản của Liên Xô trước đây ). Các chế độc đảng ở Mexico và Đài Loan tương ứng 71 và 73 năm (mặc dù trong trường hợp của Đài Loan, sự tính toán bị phức tạp do thất bại quân sự của Quốc Dân Đảng ở đại lục). Hơn nữa, cả ba chế độ độc đảng cầm quyền lâu nhất đều bắt đầu trải nghiệm khủng hoảng đe dọa hệ thống trong khoảng chừng một thập kỷ trước khi chúng biến mất khỏi quyền lực chính trị. Nếu kinh nghiệm lịch sử tương tự cần được lặp lại ở Trung Quốc, nơi mà Đảng Cộng sản đã cai trị trong 63 năm, chúng ta có thể suy đoán hợp lý rằng xác suất của một quá trình chuyển đổi chế độ vừa cao vừa có thực là ở trong vòng 10-15 năm tới, khi ĐCSTQ sẽ đạt bên trên giới hạn tuổi thọ của các chế độ độc đảng. (78 năm)

Thứ hai, các ảnh hưởng của sự thay đổi kinh tế-xã hội -- tăng tỷ lệ người biết đọc biết viết, tăng tỷ lệ thu nhập và đô thị hóa , cùng với sự cải thiện của công nghệ truyền thông -- giảm đáng kể chi phí của hoạt động tập thể, loại bỏ tính hợp pháp hóa sự cai trị của chế độ chuyên quyền, và cổ vũ những nhu cầu dân chủ lớn hơn. Kết quả là, các chế độ độc tài, mà chúng có một thời gian cai trị tương đối dễ dàng những xã hội nghèo nàn và nông nghiệp, tìm thấy nó ngày càng khó khăn và cuối cùng không thể duy trì sự cai trị của chúng một khi kinh tế-xã hội phát triển đạt đến một mức độ nhất định. Phân tích thống kê cho thấy rằng các chế độ độc tài trở nên dần dần không ổn định (và quá trình chuyển đổi dân chủ có nhiều khả năng) một khi thu nhập tăng lên trên 1000 $ (PPP) trên bình quân đầu người. Khi thu nhập bình quân đầu người trên 4000 $ (PPP), khả năng quá trình chuyển đổi dân chủ gia tăng đáng kể hơn. Vài chế độ độc tài, trừ phi chúng cai trị trong các nước sản xuất dầu mỏ, có thể tồn tại một khi thu nhập bình quân đầu người đạt hơn 6000 $ (PPP). Nếu chúng ta áp dụng quan sát này và tính đến các hiệu ứng có thể xảy ra do lạm phát (mặc dù các số liệu PPP trên được tính toán trong các điều kiện không thay đổi), chúng ta sẽ tìm thấy rằng Trung Quốc cũng đang ở trong "vùng quá trình chuyển đổi dân chủ" này, vì thu nhập trên mỗi đầu người của nó hiện nay là khoảng 9.100 $ (PPP) , có thể so sánh được với mức thu nhập của Hàn Quốc và Đài Loan vào đêm trước của các quá trình chuyển đổi dân chủ của họ trong giữa những năm 1980 . Trong 10 - 15 năm nữa, thu nhập bình quân đầu người của Trung Quốc có thể vượt quá 15.000 USD và tỷ lệ đô thị hóa của nó sẽ tăng lên tới 60 - 65%. Nếu hiện nay ĐCSTQ có một giai đoạn gay go như vậy ( trong lãnh vực triển khai nhân lực và nguồn tài chính của nó ) để duy trì sự cai trị của nó, tưởng tượng ra ngay nhiệm vụ sẽ trở thành không thể như thế nào trong thời gian 10-15 năm tới.

Nếu phân tích này đủ sức thuyết phục chúng ta xem xét các khả năng mạnh mẽ của một quá trình chuyển đổi dân chủ ở Trung Quốc trong vòng 10-15 năm tới, câu hỏi thú vị nhiều hơn tiếp theo là chính xác "một quá trình chuyển đổi như vậy sẽ xảy ra như thế nào ?"

Một lần nữa, dựa trên những kinh nghiệm phong phú của các quá trình chuyển đổi dân chủ từ những năm 1970, có năm phương cách Trung Quốc có thể trở thành dân chủ:


  • "Kết thúc có hậu" sẽ là kiểu cách thích hợp nhất của quá trình chuyển đổi dân chủ cho Trung Quốc. Thông thường, một lối thoát khỏi quyền lực một cách hòa bình được sắp xếp bởi các tầng lớp cầm quyền của chế độ cũ đi qua nhiều giai đoạn. Nó bắt đầu với sự xuất hiện của một cuộc khủng hoảng về tính hợp pháp, mà có thể bị gây ra bởi nhiều yếu tố (chẵng hạn như nền kinh tế yếu kém, thất bại quân sự, nổi lên sự kháng cự của nhân dân, không kham nổi cái giá của sự đàn áp, và nạn tham nhũng). Sự nhận ra một cuộc khủng hoảng như vậy thuyết phục một số nhà lãnh đạo của chế độ rằng sự cai trị độc tài đã đến ngày tận số và họ nên bắt đầu sắp xếp việc từ bỏ quyền lực một cách tao nhã. Nếu các nhà lãnh đạo như vậy có khả năng thống trị chính trị bên trong chế độ, họ bắt đầu một quá trình tự do hóa bằng cách giải phóng các phương tiện truyền thông và nới lỏng kiểm soát đối với các tổ chức xã hội dân sự. Sau đó, họ đàm phán với các nhà lãnh đạo đối lập để thiết lập các quy tắc của hệ thống chính trị sau quá trình chuyển đổi. Quan trọng nhất, các cuộc đàm phán như vậy tập trung vào việc bảo vệ tầng lớp cầm quyền của chế độ cũ, những kẻ đã vi phạm ngược đãi nhân quyền và duy trì những đặc quyền của các tổ chức nhà nước mà chúng đã hỗ trợ chế độ cũ (chẵng hạn như quân đội và cảnh sát mật). Một khi các cuộc đàm phán như vậy được ký kết, các cuộc bầu cử được tổ chức. Trong hầu hết các trường hợp (Đài Loan và Tây Ban Nha là những trường hợp ngoại lệ), những đảng đại diện cho chế độ cũ bị thua trong các cuộc bầu cử như thế, do đó mở ra một kỷ nguyên dân chủ mới. Tại thời điểm này, quá trình chuyển đổi ở Miến Điện đang diễn ra theo kịch bản này.

    Nhưng đối với Trung Quốc, xác suất của một kết thúc có hậu như vậy phụ thuộc hoàn toàn vào, trong những thứ khác, cho dù tầng lớp cầm quyền bắt đầu cải cách trước khi chế độ cũ bị mất tính hợp pháp mà không thể khắc phục được. Ghi chép lịch sử về quá trình chuyển đổi hòa bình từ những chế độ độc tài toàn trị phần lớn là khủng khiếp vì những chế độ như vậy chống lại cải cách cho đến khi quá muộn. Trường hợp thành công của quá trình chuyển đổi "kết thúc có hậu", chẳng hạn như kết thúc ở Đài Loan, Mexico, và Brazil, đã diễn ra bởi vì chế độ cũ vẫn duy trì đủ sức mạnh chính trị và một vài mức độ hỗ trợ từ các nhóm xã hội quan trọng. Vì vậy, tầng lớp cầm quyền bắt đầu quá trình này càng sớm, càng có nhiều cơ hội thành công cho họ. Tuy nhiên, nghịch lý là chế độ đủ mạnh thì không muốn cải cách và chế độ yếu kém thì không thể cải cách. Trong trường hợp Trung Quốc, tỷ lệ cược cho một hạ cánh nhẹ nhàng là có thể xác định được bởi những gì giới lãnh đạo mới của Trung Quốc thực hiện trong năm năm tới bởi vì cửa sổ cơ hội cho hạ cánh mềm trên lãnh vực chính trị sẽ không còn mở mãi mãi.


  • "Gorbachev xuất hiện ở Trung Quốc" là một biến dạng của kịch bản "kết thúc có hậu" với một khúc quanh khó chịu. Trong kịch bản như vậy, giới lãnh đạo Trung Quốc bỏ lỡ cơ hội lịch sử để bắt đầu cải cách ngay bây giờ. Tuy nhiên, trong thập kỷ tới, một sự hội tụ của các xu hướng bất lợi về kinh tế, xã hội, và chính trị (chẳng hạn như giảm tăng trưởng kinh tế do dân số lão hóa, sự thối rữa của môi trường , tư bản bè phái, bất bình đẳng, tham nhũng và bất ổn xã hội gia tăng) cuối cùng buộc chế độ phải đối mặt với thực tế . Những kẻ có đường lối cứng rắn bị mất uy tín và bị thay thế bởi các nhà cải cách, như Gorbachev, bắt đầu một phiên bản mở cửa và cải tổ (glasnost và perestroika) của Trung Quốc. Nhưng chế độ vào thời điểm đó đã đánh mất toàn bộ sự tín nhiệm và hỗ trợ chính trị từ các nhóm xã hội quan trọng. Tự do hóa kích hoạt huy động chính trị đám đông và chủ nghĩa cực đoan. Các thành viên của chế độ cũ bắt đầu rời bỏ đảng -- hoặc đứng về phe đối lập hoặc đến các nơi trú ẩn an toàn của họ ở Nam California hay Thụy Sĩ. Trong bối cảnh hỗn loạn chính trị, chế độ trở nên tồi tệ hơn với sự chia rẽ nội bộ, tương tự như giữa Boris Yeltsin và Gorbachev, với sự nổi lên của một nhà dân chủ cực đoan thay thế một nhà cải cách vừa phải. Với sự hỗ trợ to lớn của nhân dân, phe đối lập chính trị thống trị, bao gồm cả những kẻ đào thoát từ chế độ cũ, từ chối chấp nhận nhượng bộ với Đảng Cộng sản vì bây giờ nó đúng là không có vị thế để đàm phán. Cai trị của đảng sụp đổ, hoặc như là một kết quả của các cuộc bầu cử tống cổ những người trung thành của nó ra khỏi quyền lực hoặc sự chiếm giử quyền lực tự nhiên của phe đối lập.

    Một kịch bản như vậy sẽ xảy ra ở Trung Quốc, nó sẽ là mỉa mai nhất. Trong hai mươi năm qua, Đảng Cộng sản đã cố gắng tất cả mọi thứ để ngăn chặn một sự sụp đổ theo kiểu Liên Xô. Nếu "kịch bản Gorby" (kịch bản Gorbachev ) là điều sẽ đem lại nền dân chủ cho Trung Quốc, nó có nghĩa là đảng rõ ràng đã học được những bài học sai lầm từ sự sụp đổ của Liên Xô.


  • "Thiên An Môn quay về" là một khả năng thứ ba. Một kịch bản như vậy có thể diễn ra khi đảng tiếp tục chống lại cải cách ngay cả trong bối cảnh có dấu hiệu cực đoan chính trị và sự phân cực trong xã hội. Các yếu tố tương tự mà đã góp phần cho "kịch bản Gorby" sẽ được diển ra ở đây, ngoại trừ việc kích hoạt sụp đổ không phải là một động thái muộn màng hướng đến tự do hóa bởi những người cải cách bên trong chế độ, mà bởi một cuộc nổi dậy bất ngờ to lớn huy động một loạt rộng lớn các nhóm xã hội trên toàn quốc, như đã xảy ra ở quảng trường Thiên An Môn vào năm 1989. Các biểu hiện của một cuộc cách mạng chính trị như vậy sẽ giống hệt với những gì được nhìn thấy trong những ngày cuồng nhiệt của cuộc biểu tình ủng hộ dân chủ ở Thiên An Môn và "Cách mạng hoa Lài" ở Trung Đông. Trong trường hợp Trung Quốc, "Thiên An Môn quay về" tạo ra một kết quả chính trị khác chủ yếu là do quân đội Trung Quốc từ chối can thiệp một lần nữa để bảo toàn đảng (trong hầu hết các trường hợp khủng hoảng gây ra quá trình chuyển đổi từ những năm 1970, quân đội đã ruồng bỏ những kẻ cai trị độc đoán ở thời khắc quan trọng nhất).


  • "Mất kiểm soát tài chính" -- kịch bản thứ tư của chúng ta -- có thể bắt đầu một quá trình chuyển đổi dân chủ tại Trung Quốc trong cùng một cách mà cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997-98 đã dẫn đến sự sụp đổ của Suharto ở Indonesia. Hệ thống tài chính dựa trên ngân hàng của Trung Quốc chia sẻ nhiều đặc điểm với hệ thống ngân hàng Indonesia thời Suharto : chính trị, hào phóng vì lợi ích nhóm, tham nhũng, quy định của người nghèo, và quản lý rủi ro yếu kém. Đó là một thực tế nổi tiếng hiện nay mà hệ thống tài chính Trung Quốc đã chồng chất rất lớn các khoản nợ xấu và có thể lâm vào tình trạng phá sản nếu các khoản vay này được công nhận. Ngoài ra, các hoạt động mù mờ thông qua hệ thống "ngân hàng chợ đen" đã mọc lên như nấm trong những năm gần đây , tạo thêm nhiều rủi ro cho sự ổn định tài chính. Khi năng lực của Trung Quốc duy trì kiểm soát vốn bị xói mòn do sự gia tăng các biện pháp chuyển tiền trong và ngoài Trung Quốc, khả năng của một cuộc khủng hoảng tài chính tăng thêm. Để làm cho vấn đề tồi tệ hơn, tự do hóa tài khoản vốn hấp tấp của Trung Quốc có thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc bay vốn trong thời điểm khủng hoảng tài chính ăn sâu bén rể. Nếu lãnh vực tài chính của Trung Quốc phải chịu một cuộc khủng hoảng, nền kinh tế sẽ dừng lại và tình trạng bất ổn xã hội có thể trở nên không thể kiểm soát được. Nếu lực lượng an ninh không lập lại được trật tự và quân đội từ chối cứu giúp đảng, đảng có thể bị mất quyền lực trong bối cảnh hỗn loạn. Xác suất của một sự sụp đổ gây ra bởi một cuộc khủng hoảng tài chính đơn lẻ là tương đối thấp. Nhưng ngay cả khi nếu đảng vẫn sống còn sau những hậu quả trực tiếp từ một cuộc khủng hoảng tài chính, sự thiệt hại kinh tế ắt có ở Trung Quốc sẽ rất có thể gây tổn hại hiệu quả kinh tế của nó đến một mức độ tạo ra hiệu ứng tung hứng mà cuối cùng làm mất đi quyền lực mang tính hợp pháp của đảng.


  • "Sụp đổ Môi trường" là kịch bản thay đổi chế độ cuối cùng của chúng ta. Với nét nổi bật của sự thối rữa môi trường ở Trung Quốc những ngày này, xác suất của một sự thay đổi chế độ gây ra bởi sự sụp đổ môi trường là không nhỏ. Đường nhánh phản hồi liên kết sụp đổ môi trường đến thay đổi chế độ là phức tạp nhưng không phải không thể hình thành. Rõ ràng, các chi phí kinh tế của sự sụp đổ môi trường sẽ là đáng kể, trong các lãnh vực chăm sóc sức khỏe, mất năng suất, thiếu nước uống, và những thiệt hại vật lý. Tăng trưởng có thể bị ngừng, phá hoại tính hợp pháp và kiểm soát của ĐCSTQ. Môi trường sụp đổ ở Trung Quốc đã bắt đầu làm cho tầng lớp trung lưu đô thị chán ghét xa lánh chế độ và đã gây nên sự phản kháng xã hội ngày càng tăng. Các nhà hoạt động môi trường có thể trở thành một lực lượng chính trị liên kết với các nhóm xã hội khác trong cùng một lý do chung chống lại một chế độ độc đảng được xem là vô tình, lãnh đạm, và không đủ năng lực về các vấn đề môi trường. Sự xuống cấp nghiêm trọng của môi trường ở Trung Quốc cũng có nghĩa là xác suất của một tai họa môi trường thảm khốc -- một sự lan tràn chất độc hại ghê gớm, hạn hán kỷ lục, hoặc sương khói độc hại kéo dài -- có thể gây ra một sự cố chống đối hàng loạt qua đó mở ra cánh cửa cho việc huy động chính trị nhanh chóng của phe đối lập.


Minxin Pei
Sự phản kháng lại tình trạng đàn áp, ngăn chặn từ bài tập trí tuệ này cần thiết cho cả Đảng Cộng sản Trung Quốc và cộng đồng quốc tế để trấn tỉnh lại. Cho đến nay, rất ít người đã nghiêm túc suy nghĩ về khả năng và các kịch bản chính đáng khác nhau của một quá trình chuyển đổi chế độ ở Trung Quốc. Khi chúng ta thảo luận chi tiết những nguyên nhân có khả năng và các kịch bản của quá trình chuyển đổi như vậy, nó sẽ trở thành dể dàng tìm thấy lối thoát mà ở đó chúng ta cần phải bắt đầu suy nghĩ về cả những gì không thể tưởng tượng lẫn những gì không thể tránh khỏi.


Minxin Pei là giáo sư khoa quản trị tại Claremont McKenna College và là thành viên không thường trú cao cấp tại German Marshall Fund của Hoa Kỳ.

BOHEMIENVN © 2013

Trang Chủ