Tham nhũng từ góc nhìn người dân, doanh nghiệp và cán bộ công chức,viên chức.


Tham nhũng là đại họa của quá nhiều triều đại và xã hội từ xưa đến nay, từ Đông sang Tây. Ở VN, căn bệnh này có thể còn tồn tại rất lâu ; bởi nó chỉ được loại trừ trong một xã hội có đủ ý thức "dân chủ là sự sống còn của quốc gia" để mọi người dân bắt tay vào xây dựng một xã hội "dân chủ thực sự". Load bảng tiếng Việt từ trang kinh tế của THD ; BHM chỉ chuyển font chử sang Unicode.

[caption id="attachment_4855" align="alignleft" width="392"] Trích trong .pdf[/caption]SÁCH THAM KHẢO / NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT. Tháng 9 năm 2012.
Nguồn viet-studies


Lời nhà xuất bản

Hiện nay, vấn đề tham nhũng đang thu hút sự quan tâm của mọi người dân. Ở Việt Nam cũng như các nước khác, việc đánh giá chính xác về tình hình tham nhũng diễn ra trong thực tế là rất khó khăn, vì tham nhũng cũng giống như một tảng băng trên biển, thường chỉ nhận biết được phần nổi qua những vụ việc đã được phát hiện, xử lý.

Thông qua kết quả phát hiện, xử lý các vụ việc tham nhũng trong những năm qua và căn cứ vào việc đánh giá của các cơ quan chức năng, Ðảng và Nhà nước ta đã khẳng định tình hình tham nhũng ở Việt Nam là nghiêm trọng. Tình trạng tham nhũng còn khá phổ biến trong quan hệ giữa công chức nhà nước với người dân và doanh nghiệp, giữa nhân viên các cơ sở dịch vụ công với khách hàng, gây bức xúc trong dư luận xã hội.

Ở nước ta, trong những năm qua, nhất là kể từ khi ban hành Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005, công tác phòng chống tham nhũng có nhiều tiến bộ, có chuyển biến trong hành động nhưng chưa rõ nét nên tình hình tham nhũng vẫn nghiêm trọng, chưa cải thiện được nhiều. Mục tiêu ngăn chặn và từng bước đẩy lùi tham nhũng chưa làm được.

Ðể giúp bạn đọc có thêm tư liệu về vấn đề tham nhũng hiện nay ở nước ta, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật xuất bản cuốn sách Tham nhũng từ góc nhìn của người dân, doanh nghiệp và cán bộ, công chức, viên chức - Kết quả khảo sát xã hội học do Thanh tra Chính phủ chủ trì; Ngân hàng Thế giới và Thanh tra Chính phủ thực hiện, cùng với sự hỗ trợ của Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống tham nhũng, Công ty TNHH tư vấn Quản lý và Chuyển đổi tổ chức T&C, Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc.

Nội dung cuốn sách cung cấp cho người đọc nhiều dữ liệu và những phân tích trên một số khía cạnh về tình hình tham nhũng ở Việt Nam. Những điều đó giúp cho người đọc, đặc biệt là các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách, có thêm thông tin về mức độ phổ biến và hình thức tham nhũng ở Việt Nam, nguyên nhân của tham nhũng và những nhân tố hạn chế hiệu lực của công tác phòng chống tham nhũng, phương hướng và giải pháp cần đẩy mạnh trong phòng chống tham nhũng của Việt Nam trong những năm tới.

Mặc dù cuộc khảo sát được thực hiện ở 10 tỉnh/thành phố lớn trên cả nước và không phản ánh ý kiến của tổng thể dân số, doanh nghiệp và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ở Việt Nam, nhưng kết quả của nghiên cứu lại rất có ý nghĩa và được coi như một kênh tham khảo quan trọng giúp đề ra được những giải pháp thích hợp thúc đẩy công tác phòng chống tham nhũng ở Việt Nam.

Chống tham nhũng là vấn đề khó và phức tạp, tuy nhiên như cuốn sách này đã chỉ ra, đây là vấn đề không phải không làm được. Chúng tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp của bạn đọc để có thể xuất bản được những cuốn sách hay về vấn đề này, góp phần thực hiện công tác phòng chống tham nhũng ngày càng tốt hơn.

Xin giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
Tháng 9 năm 2012
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT.


Lời Cảm ơn.

Báo cáo này và toàn bộ cuộc Khảo sát xã hội học về Phòng chống tham nhũng do Thanh tra Chính phủ chủ trì, phối hợp với Văn phòng Ban chỉ đạo Trung ương về Phòng chống tham nhũng và Ngân hàng Thế giới thực hiện. Quy trình khảo sát chung được chỉ đạo bởi Ban Cố vấn gồm 10 thành viên đại diện cho Thanh tra Chính phủ, Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống tham nhũng, Văn phòng Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Văn phòng Doanh nghiệp vì sự phát triển bền vững thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, và Ngân hàng Thế giới. Ban Cố vấn do ông Trần Ðức Lượng, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ làm Trưởng ban, và ông Lê Văn Lân, Phó Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống tham nhũng làm Phó Trưởng ban.

Cuộc khảo sát và báo cáo này được tài trợ bởi Ngân hàng Thế giới và Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) thông qua Quỹ tín thác GAPAP và VGEMS. Cố vấn về kỹ thuật do chuyên gia của các tổ chức nói trên và chuyên gia của UNDP thực hiện. Cuộc khảo sát do Công ty TNHH tư vấn Quản lý và Chuyển đổi tổ chức (T&C) và Viện Quản lý châu Á - Thái Bình Dương (APIM) thực hiện với sự hỗ trợ của Thanh tra Chính phủ, Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống tham nhũng và Ngân hàng Thế giới.

Chịu trách nhiệm phối hợp và trực tiếp tham gia cuộc Khảo sát xã hội học về Phòng chống tham nhũng là Tổ Công tác gồm 10 thành viên từ Thanh tra Chính phủ và Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống tham nhũng. Tổ Công tác do ông Ngô Mạnh Hùng, Phó Cục trưởng Cục Chống tham nhũng làm Tổ trưởng; ông Trần Anh Tuấn, Phó Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu Tổng hợp và Quan hệ quốc tế, Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống tham nhũng làm Tổ phó, được thành lập nhằm hỗ trợ và giám sát quá trình nghiên cứu. Tổ Công tác chịu trách nhiệm kết nối giữa Nhóm tư vấn và các cán bộ đầu mối cấp bộ và cấp tỉnh để thu thập dữ liệu, theo dõi và hỗ trợ quá trình thu thập dữ liệu. Tổ Công tác cũng đưa ra các góp ý quan trọng cho cách tiếp cận nghiên cứu, phân tích dữ liệu ban đầu và kết quả nghiên cứu.

Nhóm Ngân hàng Thế giới chịu trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật và tham gia vào quá trình khảo sát thử, hỗ trợ tập huấn điều tra viên, theo dõi và kiểm soát chất lượng trong quá trình thu thập dữ liệu. Nhóm cũng phối hợp với Nhóm Tư vấn trong phân tích dữ liệu và dự thảo Báo cáo này. Các thành viên chủ chốt của nhóm Ngân hàng Thế giới gồm ông James Anderson, bà Trần Thị Lan Hương, bà Nguyễn Thị Phương Loan và bà Ðỗ Thị Phương Thảo. Chúng tôi chân thành cảm ơn sự hỗ trợ và động viên của bà Victoria Kwakwa, Giám đốc quốc gia và ông Deepak Mishra, Kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới trong suốt quá trình nghiên cứu. Thanh tra Chính phủ, Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống tham nhũng, các đối tác phát triển khác gồm Ngân hàng Thế giới, UK-DFID và UNDP, cùng Nhóm tư vấn của T&C và APIM đã phối hợp thiết kế bảng hỏi và cách tiếp cận nghiên cứu. Nhóm tư vấn của T&C và APIM được giao nhiệm vụ triển khai quá trình khảo sát. Bên cạnh đó, còn có sự đóng góp quý báu của ông Jairo Acuna-Alfaro (UNDP), bà Ðỗ Thị Thanh Huyền (UNDP), ông Renwick Irvine (UK-DFID) và bà Nguyễn Thị Kim Liên (UK-DFID) trong quá trình khảo sát.

Nhóm tư vấn gồm 10 nghiên cứu viên/chuyên gia từ T&C và APIM (Ðại học Kinh tế quốc dân). Các thành viên nòng cốt của Nhóm tư vấn gồm các ông Nguyễn Văn Thắng (Trưởng nhóm), Vũ Cương, Lê Quang Cảnh, Bùi Ðức Tuân và Vũ Ðông Hưng. Nhóm tư vấn hỗ trợ thiết kế bảng hỏi, chịu trách nhiệm chính về thu thập dữ liệu và kiểm soát chất lượng dưới sự giám sát chặt chẽ của Nhóm Ngân hàng Thế giới, Tổ Công tác của Thanh tra Chính phủ và Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống tham nhũng. Nhóm tư vấn huy động sự hỗ trợ của 10 trưởng nhóm cấp tỉnh và trên 100 điều tra viên để thu thập dữ liệu.

Việc phân tích số liệu và viết báo cáo do ông James Anderson và bà Trần Thị Lan Hương (Ngân hàng Thế giới), ông Nguyễn Văn Thắng, ông Lê Quang Cảnh và ông Vũ Cương (T&C và APIM) thực hiện. Ông Jairo Acuna-Alfaro (UNDP), bà Ðỗ Thị Thanh Huyền (UNDP), ông Renwick Irvine (UK-DFID) và bà Nguyễn Thị Kim Liên (UK-DFID) đã góp ý cho các dự thảo báo cáo. Những phát hiện ban đầu đã được trình bày trước Thanh tra Chính phủ và Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống tham nhũng vào tháng 4-2012 và tại hai cuộc hội thảo, mỗi cuộc hai ngày trong tháng 5-2012 với Ban Cố vấn và đại diện các bên hữu quan đến từ các bộ và tỉnh/thành phố. Các ý kiến của đại biểu tham dự hội thảo là cơ sở để giúp chúng tôi hoàn thiện báo cáo.

Chúng tôi đặc biệt ghi nhận các góp ý của các chuyên gia thuộc Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Trung ương Ðảng, Văn phòng Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Văn phòng Doanh nghiệp vì sự phát triển bền vững thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các bộ, ngành và địa phương liên quan. Chúng tôi cũng xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành đến ông Trần Ðức Lượng, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ và ông Lê Văn Lân, Phó Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống tham nhũng đã chủ trì các cuộc hội thảo. Cuối cùng, xin cảm ơn các chuyên viên Cục Chống tham nhũng (Thanh tra Chính phủ) đã giúp chúng tôi tổ chức thành công các buổi hội thảo này.

Cuộc khảo sát sẽ không thể triển khai được nếu không có sự hợp tác của cơ quan Thanh tra thuộc 10 tỉnh và 5 bộ được khảo sát, cùng với hàng trăm trưởng thôn/tổ trưởng dân phố và sự hỗ trợ tại chỗ của Thanh tra Chính phủ và Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống tham nhũng. Chúng tôi gửi lời cảm ơn đặc biệt đến 5.460 người dân, lãnh đạo các doanh nghiệp và cán bộ, công chức, viên chức đã dành thời gian và đưa ra những câu trả lời thẳng thắn cho cuộc khảo sát.

Chúng tôi cũng bày tỏ sự biết ơn đến nhóm chuyên gia thực hiện cuộc Khảo sát về Phòng chống tham nhũng năm 2005 mà cuộc khảo sát năm 2012 này đã sử dụng rất nhiều kết quả từ đó.

Ðặc biệt, xin cảm ơn GS. Nguyễn Ðình Cử, Viện Dân số và các vấn đề xã hội, Ðại học Kinh tế quốc dân, Trưởng nhóm khảo sát năm 2005 đã giúp chúng tôi làm rõ nhiều vấn đề để nhóm có thể tiến hành so sánh một số kết quả của hai cuộc khảo sát.

Mục lục

Hình . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ..................................10
Bảng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ................................... 13
Danh mục từ viết tắt . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .14

Phần I - GIỚI TH ỆU TỔNG QUAN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 15

1.1. Sự cần thiết của cuộc khảo sát . . . . . . . . . . . . . . . . . .16
1.2. Mục tiêu và phạm vi của cuộc khảo sát . . . . . . . . . . . . . . .17
1.3. Phương pháp nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 19
1.4. Hạn chế của phương pháp nghiên cứu dựa vào khảo sát . . . . . . . . 24
1.5. Bố cục của báo cáo . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 26

Phần II - CÁC KẾT QUẢ KHẢO SÁT . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .27

2.1. Cảm nhận và trải nghiệm về tham nhũng . . . . . . . . . . . . . . . 27
2.1.1. Cảm nhận về tham nhũng . . . . . . . . . . . . . . . . . . .27
2.1.2. Trải nghiệm về tham nhũng . . . . . . . . . . . . . . . . .37
2.1.3. Các nguồn thông tin về tham nhũng . . . . . . . . . . . . .
2.1.4. Thách thức mới nổi lên: Nhóm lợi ích . . . . . . . . . . . .56
2.2. Hiệu quả của các biện pháp phòng chống tham nhũng . . . . . . . . . .60
2.2.1. Tiến triển và thách thức trong việc thực hiện phòng chống tham nhũng ..60
2.2.2. Nguyên nhân gây ra tham nhũng . . . . . . . . . . . . . . . . . .65
2.2.3. Phản ứng với các tình huống có nguy cơ tham nhũng . . . . . . . . 67
2.2.4. Doanh nghiệp tổ chức các hoạt động phòng chống tham nhũng của họ như thế nào? . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .. . . . . . 69
2.2.5. Ðấu thầu . . . . . . . . . . . . . . 70
2.2.6. Tuyển dụng và đề bạt cán bộ . . . . . . . . . . . . . 71
2.2.7. Vai trò của cơ quan truyền thông . . . . . . . . . . . 72
2.2.8. Sự cần thiết của các biện pháp phòng chống tham nhũng . . . 74
2.2.9. Bằng chứng thực tế: biện pháp nào có hiệu quả? . . . . . . . 76
2.3. So sánh với Khảo sát năm 2005 . . . . . . . . . . . . . . . . . . 79
2.4. So sánh với các cuộc khảo sát khác . . . . . . . . . . . . . . . . . 86
2.4.1. Cảm nhận và trải nghiệm của người dân so với PAP . . . . . . . . 86
2.4.2. Nhận thức và trải nghiệm của lãnh đạo doanh nghiệp . . . . . . . . 90

Phần III - KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 93
3.1. Hoạch định chính sách . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .94
3.2. Thực hiện chính sách . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 104
3.3. Giám sát tham nhũng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 108
3.4. Nâng cao nhận thức của công chúng . . . . . . . . . . . . . . . . . . 109
3.5. Kết luận . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 111

Phần IV - PHỤ LỤC . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .113

Phụ lục 1. Thông tin thêm về phương pháp nghiên cứu . . . . . . . .113

A.1.1. Mẫu khảo sát . . . . . . . . . . . . . . . .113

A.1.2. Khảo sát thử . . . . . . . . . . . . . . . . 117

A.1.3. Tập huấn điều tra viên . . . . . . . . . . . . 117

A.1.4. Hỗ trợ của TTCP và VPBCÐTƯ . . . . . . . . . . 118

A.1.5. Ðảm bảo chất lượng . . . . . . . . . . . . . . 119

A.1.6. Khó khăn đối với nhóm khảo sát . . . . . . . . 121

Phụ lục 2. Các yếu tố thể chế liên quan đến tham nhũng.

HÌNH

Hình 1: Ba vấn đề bức xúc nhất đối với Việt Nam, theo quan điểm của CBCC, doanh nghiệp và người dân (%) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 28
Hình 2. Tham nhũng là gì? (tỷ lệ phần trăm số người cho rằng chắc chắn đó là tham nhũng) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 30
Hình 3. Cảm nhận của người dân về mức độ phổ biến của tham nhũng (tỷ lệ phần trăm số người cho tham nhũng là phổ biến, theo nhóm thu nhập) . . . . . . . . . . . . . . . .32
Hình 4. Cảm nhận của người dân về mức độ nghiêm trọng của tham nhũng (tỷ lệ phần trăm số người cho tham nhũng là nghiêm trọng, theo nhóm thu nhập) . . . . 33
Hình 5. Cảm nhận của CBCC cấp trung ương và cấp địa phương về mức độ phổ biến của tham nhũng (tỷ lệ phần trăm CBCC cho tham nhũng là phổ biến) . . . . . . . 34
Hình 6. Cảm nhận của CBCC cấp trung ương và cấp địa phương về mức độ nghiêm trọng của tham nhũng (tỷ lệ phần trăm CBCC cho tham nhũng là nghiêm trọng) . . . . . . . . . 34
Hình 7. Mức độ phổ biến của tham nhũng trong các ngành, lĩnh vực theo ý kiến của CBCC, doanh nghiệp và người dân (tỷ lệ phần trăm số người cho tham nhũng là phổ biến trong số những người có ý kiến) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 36
Hình 8. Ngành tham nhũng nhất theo quan điểm của CBCC, doanh nghiệp và người dân (tỷ lệ phần trăm số ý kiến chọn là 1 trong 3 ngành tham nhũng nhất) . . . . . . . . . . . . . . . 37
Hình 9. Yêu cầu với doanh nghiệp (%) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 38
Hình 10. Khó khăn do CBCC gây ra cho doanh nghiệp (trong số các doanh nghiệp có giao dịch với cơ quan nhà nước) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 39
Hình 11. Phản ứng của doanh nghiệp trước những khó khăn do cơ quan quản lý nhà nước gây ra (%) . . . . . . . . . . . . . . 40
Hình 12. Vì sao doanh nghiệp chi trả ngoài quy định (%) . . . . . . . . . . . . . . . . 40
Hình 13. Tác động của chi phí không chính thức đến doanh nghiệp . . . . . . . . . . . . . . 41
Hình 14. Các cơ quan hay gây khó khăn và ba cơ quan gây khó khăn nhiều nhất (tỷ lệ phần trăm doanh nghiệp) . . . . 42
Hình 15. Tương quan giữa tỷ lệ cơ quan gây khó khăn và việc biếu quà/tiền . . . . . . 43
Hình 16. Trả các khoản tiền không chính thức cho ai? Ai là người gợi ý? . . . . . . . . . 44
Hình 17. Giữ quan hệ tốt với CBCC, trải nghiệm của doanh nghiệp trong 12 tháng qua . . . 45
Hình 18. Doanh nghiệp trả phí không chính thức thì kinh doanh kém hiệu quả . . . . 46
Hình 19. Tỉnh/thành phố có hiện tượng đưa hối lộ nhiều hơn thì doanh nghiệp cũng kinh doanh kém hơn . . . . . . . . . . . . . . . . . 47
Hình 20. Tỷ lệ phần trăm người dân sử dụng các dịch vụ khác nhau trong 12 tháng trước đó . . 48
Hình 21. Sử dụng dịch vụ, theo nhóm thu nhập (%) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .49
Hình 22. Xác suất phải đưa hối lộ khi sử dụng dịch vụ hoặc giao dịch với các cơ quan nhà nước, trong số những người dân có giao dịch (%). . . . . . . . . . . . . 50
Hình 23. Xác suất phải đưa hối lộ lớn khi sử dụng các dịch vụ hoặc giao dịch với cơ quan nhà nước, trong số những người có giao dịch (%) . . . . . . . . . . . . . . . . . 50
Hình 24. Tỷ lệ trong toàn bộ dân số phải đưa hối lộ, theo ý kiến của người dân (%) . . . . . 51
Hình 25. Phản ứng và kết quả lần được gợi ý chi trả khoản tiền ngoài quy định gần đây nhất (tỷ lệ phần trăm người dân trả lời) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 52
Hình 26. Cán bộ gợi ý hoặc yêu cầu đưa tiền ngoài quy định hoặc quà biếu như thế nào?
(tỷ lệ phần trăm số người khẳng định có chi trả ngoài quy định trong 12 tháng qua) . . . 52
Hình 27. Khi người dân phải trả tiền ngoài quy định hoặc biếu quà, đó là tự nguyện hay do bị gợi ý? (tỷ lệ phần trăm số người có trả tiền ngoài quy định hoặc biếu quà trong 12 tháng qua) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 53
Hình 28. Vì sao người dân trả tiền ngoài quy định, ngay cả khi không bị yêu cầu? (tỷ lệ phần trăm số người nói đã có lần "tự nguyện" đưa tiền ngoài quy định) . . . . . 54
Hình 29. Hành vi mà CBCC đã gặp trong công việc 12 tháng qua (tỷ lệ phần trăm CBCC) . . . 55
Hình 30. Nguồn thông tin về tham nhũng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 56
Hình 31. Quan điểm của doanh nghiệp về nhóm lợi ích . . . . . . . . . . . . . . . . . 57
Hình 32. Nhóm lợi ích gây ảnh hưởng với ai vì mục đích tiêu cực? (trong số các doanh nghiệp chỉ thừa nhận các khía cạnh tiêu cực của nhóm lợi ích - sử dụng hối lộ hoặc quan hệ chứ không giúp truyền tải các khó khăn) . . . . . . . 59
Hình 33. Nhóm lợi ích gây ảnh hưởng với ai vì mục đích tích cực? (trong số các doanh nghiệp chỉ thừa nhận khía cạnh tích cực của nhóm lợi ích - giúp truyền tải các khó khăn, nhưng không sử dụng quan hệ hoặc hối lộ) . . . . . . . . . . . . . . 59
Hình 34. Kiến thức và thái độ của CBCC về các vấn đề phòng chống tham nhũng . . . . . . 60
Hình 35. Ðánh giá của CBCC trung ương và địa phương về hiệu quả của các biện pháp phòng chống tham nhũng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 61
Hình 36. Nhận định của CBCC về việc phát hiện, xử lý tham nhũng hiện nay . . . . . . 62
Hình 37. Cảm nhận về các yếu tố hạn chế kết quả đấu tranh chống tham nhũng . . . . . . 64
Hình 38. Mức độ tin tưởng của CBCC vào khả năng phát hiện tham nhũng . . . . . . . 65
Hình 39. Ý kiến về nguyên nhân dẫn đến tham nhũng (tỷ lệ phần trăm đồng ý và rất đồng ý) . 66
Hình 40. Phản ứng của người dân trước một công chức tham nhũng . . . . . . . . . . . . . 67
Hình 41. Lý do không tố cáo tham nhũng (tỷ lệ phần trăm đồng ý hoặc rất đồng ý) . . . 68
Hình 42. Các hoạt động phòng chống tham nhũng do doanh nghiệp thực hiện . . . . . 69
Hình 43. Ðánh giá của CBCC về hoạt động đấu thầu trong cơ quan, đơn vị . . . . . . . 70
Hình 44. Ðánh giá của doanh nghiệp về hoạt động đấu thầu mà họ tham gia . . . . . . 71
Hình 45. Tầm quan trọng của các yếu tố trong tuyển dụng công chức . . . . . . . . . . . . 72
Hình 46. Tầm quan trọng của các yếu tố trong đề bạt công chức . . . . . . . . . . . . .72
Hình 47. Vai trò của cơ quan truyền thông trong việc giúp đấu tranh chống tham nhũng (tỷ lệ phần trăm đồng ý và rất đồng ý) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 73
Hình 48. Ai có cái nhìn tích cực hơn về cơ quan truyền thông? . . . . . . . . . . . .74
Hình 49. Sự đồng thuận về tính cấp thiết của các biện pháp phòng chống tham nhũng giữa các đối tượng CBCC, doanh nghiệp và người dân (tỷ lệ phần trăm nói cần thiết) . . . . . . . 75
Hình 50. CBCC quan sát thấy những hành vi nào trong năm 2005 và 2012? (tỷ lệ phần trăm số người chứng kiến trong 12 tháng qua) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 81
Hình 51. Các hình thức tham nhũng mà người dân đã chứng kiến trong năm 2005 và 2012 (%) . 82
Hình 52. Hình thức tham nhũng mà doanh nghiệp đối mặt trong năm 2005 và 2012 . . . . . 83
Hình 53. Phản ứng của doanh nghiệp trước những hình thức tham nhũng, năm 2005 và năm 2012 . 84
Hình 54. Vì sao các doanh nghiệp đưa hối lộ, năm 2005 và năm 2012 (%) . . . . . . . . . 85
Hình 55: PAPI và Khảo sát xã hội về PCTN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 88
Hình 56: PCI và Khảo sát xã hội học về PCTN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 92
Hình 57: Ðối tượng CBCC trong mẫu khảo sát, phân theo cấp hành chính . . . . . . . . 115
Hình 58: Ðối tượng CBCC trong mẫu khảo sát, phân theo lĩnh vực công tác . . . . . . 115
Hình 59: Mẫu khảo sát doanh nghiệp dự kiến và thực tế . . . . . . . . . . . . . . . 116
Hình 60. Hệ thống giám sát đảm bảo chất lượng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 120

Bảng

Bảng 1. Cơ cấu CBCC trong mẫu khảo sát tại mỗi tỉnh/thành phố . . . . . . . . . . . . . . 21
Bảng 2. Số đối tượng được khảo sát, theo tỉnh/thành phố và nhóm đối tượng . . . . . . 22
Bảng 3. Các yếu tố thể chế gắn với mức độ tham nhũng thấp . . . . . . . . . . . . . . 77
Bảng 4. Các ngành/lĩnh vực có tham nhũng phổ biến nhất trong Khảo sát
năm 2005 và Khảo sát năm 2012 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 80
Bảng 5. PAPI và Khảo sát xã hội học về PCTN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 87
Bảng 6. PCI và Khảo sát xã hội học về PCTN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 91
Bảng 7: Số đối tượng người dân trong mẫu khảo sát . . . . . . . . . . . . . . . . 113
Bảng 8: Ðặc điểm chung của mẫu khảo sát . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .117
Bảng 9. Phân tích cấp tỉnh về các yếu tố thể chế liên quan đến mức tham nhũng thấp . . . 124
Bảng 10. Phân tích cấp quận/huyện về các yếu tố thể chế liên quan đến mức tham nhũng thấp .126

Danh mục từ viết tắt.

APIM Viện Quản lý kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
CBCC Cán bộ, công chức, viên chức
DFID Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh
DN Doanh nghiệp
HÐND Hội đồng nhân dân
NHTG Ngân hàng Thế giới
PCTN Phòng chống tham nhũng
TD&ÐG Theo dõi và đánh giá
T&C Công ty TNHH tư vấn Quản lý và Chuyển đổi tổ chức
TPHCM Thành phố Hồ Chí Minh
TTCP Thanh tra Chính phủ
UBND Ủy ban nhân dân
UNDP Chương trình Phát triển Liên hợp quốc
VPBCÐTƯ Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống tham nhũng.

PHẦN I

Giới thiệu tổng quan.

Năm 2005, Ban Nội chính Trung ương Ðảng đã chủ trì một nghiên cứu nhằm nắm bắt thực trạng mức độ, hình thái và bản chất tham nhũng ở Việt Nam. Nghiên cứu năm 2005 là công cụ để đưa ra các định hướng cho việc xây dựng Luật PCTN năm 2005, trong đó giới thiệu những cách tiếp cận mới trong công tác PCTN như kê khai tài sản của CBCC, chuyển đổi vị trí công tác và nhấn mạnh hơn đến tính minh bạch. Nghiên cứu năm 2005 và Luật PCTN có hiệu lực từ năm 2006 đã tiên đoán về một giai đoạn mà xã hội sẽ quan tâm nhiều hơn đến hậu quả của tham nhũng và những thách thức trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Bảy năm sau, tham nhũng vẫn tiếp tục thu hút sự quan tâm của công chúng. Trong các cuộc đối thoại về PCTN do TTCP và các đối tác phát triển đồng tổ chức định kỳ nửa năm một lần (1) , các bên đã bàn đến nhiều biện pháp kỹ thuật và trao đổi ý tưởng. Mặc dù quan điểm còn khác nhau nhưng có một thực tế mà các bên đều công nhận : tham nhũng vẫn còn là một thách thức lớn đối với quá trình phát triển của Việt Nam.

Kể từ cuộc Khảo sát về PCTN năm 2005, kinh tế - xã hội của Việt Nam đã có nhiều thay đổi. Nền kinh tế đã tăng trưởng thêm 50%; 10% lực lượng lao động đã chuyển từ lĩnh vực nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Chính phủ đã chi tiêu và thu thuế nhiều hơn, trong đó cả thu và chi đều đã tăng hơn hai lần. Bộ phận dân cư ngày càng giàu có hơn đã dần dần chuyển từ đi lại bằng xe đạp sang sử dụng xe máy, và từ xe máy sang ôtô -- số xe máy đã tăng thêm 60% và số lượng ôtô đã tăng thêm 600%. Mỗi gia đình sở hữu số máy tính và điện thoại di động nhiều hơn hai lần so với trước. Các dịch vụ xã hội như giáo dục và y tế đang từng bước được xã hội hóa, chuyển các gánh nặng chính thức và phi chính thức sang cho người dân. Tính chất và cơ chế tương tác giữa người dân, doanh nghiệp và Nhà nước cũng đã thay đổi : các trung tâm giao dịch một cửa, một sáng kiến đã nở rộ từ những năm 1990, cũng đang gia tăng cả về số lượng lẫn phạm vi. Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế cũng dần dịch chuyển, thoạt tiên là sự hợp nhất của nhiều doanh nghiệp nhà nước thành các tập đoàn kinh tế lớn, và bây giờ là sự nhấn mạnh trở lại yêu cầu cổ phần hóa -- chuyển quyền sở hữu sang cho khu vực tư nhân -- và chịu sự chi phối ngày càng lớn hơn của thị trường.

Mặc dù ở một số phương diện Việt Nam không có nhiều thay đổi, vẫn là một quốc gia đầy hoài bão phấn đấu cho hòa bình và thịnh vượng, nhưng ở một số phương diện khác, Việt Nam đã thay đổi so với bảy năm trước đây. Khi Việt Nam bước vào nhóm các nước có thu nhập trung bình, đó cũng là lúc cần xem lại bản chất và nguyên nhân của tham nhũng, là thời điểm cần thu thập các dữ liệu thực nghiệm mới về vấn đề này và cũng là lúc phải tiếp thêm sức mạnh mới cho cuộc đấu tranh chống tham nhũng.

1.1. Sự cần thiết của cuộc khảo sát.

Phương pháp nghiên cứu khảo sát để hiểu về tham nhũng không có gì mới. Trong một thập kỷ rưỡi kể từ khi cách tiếp cận này được giới thiệu trên khắp thế giới, những cuộc khảo sát như vậy đã cho thấy đây là công cụ hữu ích để giúp chuyển cuộc tranh luận về tham nhũng từ chỗ chỉ dựa vào các tình huống nhỏ lẻ và nhận định chủ quan sang dựa trên sự kiện và bằng chứng diện rộng. Khảo sát giúp xác định liệu tham nhũng có phải là hiện tượng mà người dân và cộng đồng doanh nghiệp phải đối mặt thường xuyên nhất hay không và các nhóm người khác nhau nhìn nhận như thế nào về tham nhũng.

Trong bảy năm qua kể từ cuộc Khảo sát 2005, bằng chứng thu được từ khảo sát khác ở Việt Nam rất phong phú. Khảo sát doanh nghiệp và người dân (2) ngày càng khẳng định sự cần thiết phải tiếp thêm sức mạnh cho cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Nghiên cứu này dựa trên khảo sát các đối tượng người dân, doanh nghiệp và CBCC, sẽ hỗ trợ thêm cho các khảo sát khác và bổ sung những khía cạnh mới, quan trọng vào hiểu biết của chúng ta về tham nhũng.

Mặc dù đã có nhiều cuộc khảo sát người dân và doanh nghiệp được thực hiện kể từ sau cuộc Khảo sát 2005, khảo sát về trải nghiệm của CBCC lại hiếm được thực hiện.

Những cuộc khảo sát CBCC giúp chúng ta hiểu được quan điểm của họ về tham nhũng và, quan trọng hơn, giúp chúng ta nhận diện được những khía cạnh nào trong chínhsách và thể chế về chống tham nhũng có vẻ có hoặc không có tác dụng. Chúng giúp chỉ ra được những lĩnh vực mà cải cách có nguy cơ vấp phải sự phản kháng từ trong nội bộ bộ máy hành chính, bên cạnh những lĩnh vực dễ được CBCC ủng hộ. Khảo sát CBCC cũng có thể giúp nhận diện các khía cạnh mà nền hành chính công có tính liêm chính cao nhất, và ngược lại, nhận diện các khía cạnh có nguy cơ tham nhũng cao nhất, hoặc có hiệu quả thấp.

Tương tự, khảo sát doanh nghiệp và người dân sẽ cung cấp thêm các bằng chứng mới, bổ sung cho các cuộc khảo sát hiện có. Trong cuộc khảo sát này, khảo sát người dân và doanh nghiệp không chỉ hỏi về các dạng tham nhũng họ gặp phải mà còn về cách tham nhũng diễn ra. Họ cũng được hỏi sâu về hàng loạt các vấn đề phức tạp và nhạy cảm xung quanh việc các doanh nghiệp liên kết với nhau để gây ảnh hưởng đến chính sách, theo cả nghĩa tích cực và tiêu cực. Bằng cách đặt câu hỏi trực tiếp với doanh nghiệp, cuộc khảo sát đã cung cấp các dữ liệu liên quan đến vấn đề lợi ích nhóm -- một thách thức đang nổi lên cùng với quá trình chuyển đổi của nền kinh tế Việt Nam.

Cuối cùng, lợi ích cơ bản của việc phỏng vấn ba nhóm đối tượng về những vấn đề tương tự nhau là để giúp xác định các lĩnh vực mà người dân, doanh nghiệp và CBCC có ý tưởng không đồng nhất về các chuẩn mực xã hội. Với một lĩnh vực nhạy cảm như tham nhũng, việc hiểu được các chuẩn mực xã hội là rất quan trọng để xác định xem cách tiếp cận nào trong phòng, chống tham nhũng có khả năng mang lại kết quả.

1.2. Mục tiêu và phạm vi của cuộc khảo sát.

Chính phủ Việt Nam đang trong quá trình đánh giá việc thực hiện Luật PCTN, Nghị quyết của Ðảng về PCTN năm 2006 và chuẩn bị trình Quốc hội Luật PCTN (sửa đổi), thay thế Luật PCTN năm 2005. Ðể cung cấp thêm thông tin cho công việc nói trên, TTCP và VPBCÐTƯ đã đề xuất nghiên cứu này. Dưới sự chỉ đạo của TTCP và VPBCÐTƯ, cuộc nghiên cứu đã được tiến hành nhằm cung cấp thông tin khách quan về bản chất, nguyên nhân và hậu quả của tham nhũng ở Việt Nam từ góc nhìn của CBCC, doanh nghiệp và người dân. Cụ thể, mục tiêu của cuộc nghiên cứu này là :
* Hiểu rõ về mức độ phổ biến và nghiêm trọng (3) cũng như các hình thức tham nhũng ở Việt Nam.
* Xác định nguyên nhân của tham nhũng, các yếu tố hạn chế hiệu lực của công tác PCTN.
* Ðề xuất những hướng đi và giải pháp ưu tiên trong nỗ lực PCTN của Việt Nam trong những năm sắp tới.

Các địa phương và lĩnh vực nghiên cứu.

Cuộc khảo sát được triển khai tại 10 tỉnh/thành phố, trong đó có 7 tỉnh/thành phố nằm trong diện khảo sát của cuộc Khảo sát năm 2005 (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Sơn La, Hải Dương, Ðồng Tháp, Nghệ An và Thừa Thiên Huế) và ba thành phố mới bổ sung (Ðà Nẵng, Hải Phòng và Cần Thơ). Việc lựa chọn 10 tỉnh/thành phố này không phải là lựa chọn ngẫu nhiên mà mục đích là tập trung vào các thành phố lớn và các vùng đô thị của Việt Nam, nơi diễn ra nhiều hoạt động kinh tế - xã hội và cũng là nơi được cho là có nguy cơ tham nhũng cao hơn. Do đó, kết quả khảo sát không đại diện cho tổng thể dân số, doanh nghiệp và đội ngũ cán bộ, công chức của Việt Nam. Mặc dù vậy, kết quả nghiên cứu là rất có ý nghĩa bởi 10 tỉnh/thành phố trong mẫu khảo sát chiếm đến 30% dân số cả nước và đóng góp hơn 65% GDP của Việt Nam.

Cuộc khảo sát cũng được tiến hành với CBCC của 5 bộ, trong đó có 3 bộ đã tham gia cuộc khảo sát năm 2005 (Bộ Giao thông vận tải, Bộ Xây dựng và Bộ Công Thương) và 2 bộ mới (Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên và Môi trường). Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên và Môi trường được bổ sung vào khảo sát là do hai bộ này quản lý những lĩnh vực được cho là có nguy cơ tham nhũng cao trong nhiều nghiên cứu trước đây (như thuế, hải quan, đất đai và khoáng sản). Mặc dù khảo sát các cơ quan như Bộ Công an, Bộ Tư pháp hay hệ thống tòa án sẽ có thể có thêm nhiều hiểu biết có giá trị về vấn đề tham nhũng và công tác PCTN, nhưng do hạn chế về thời gian và nguồn lực nên cuộc khảo sát này chưa tiếp cận đến các đối tượng đó (Các hạn chế khác của cuộc khảo sát được trình bày chi tiết trong Mục 1.4 dưới đây).

Ðối tượng khảo sát.

Ba nhóm đối tượng tham gia cuộc khảo sát bao gồm:
- Người dân: Người dân được khảo sát là đại diện cho các hộ gia đình. Công dân từ 18 tuổi trở lên có thể tham gia khảo sát. Do mục tiêu của cuộc khảo sát là tìm hiểu trải nghiệm của đối tượng khi tiếp xúc với các cơ quan nhà nước và CBCC nên mẫu khảo sát đã được thiết kế để tập trung vào những đối tượng gần đây đã có giao dịch tại các Trung tâm một cửa.
- Doanh nghiệp: Ðối tượng khảo sát là các doanh nghiệp có đăng ký chính thức. Người đại diện cho doanh nghiệp để trả lời có thể là thành viên của Ban giám đốc hoặc lãnh đạo các bộ phận Kế hoạch, Vật tư, Hành chính hoặc Kế toán. Mỗi doanh nghiệp chọn một người trả lời.
- CBCC (4) : Ở cấp bộ, người trả lời là lãnh đạo, chuyên viên thuộc cục, vụ hoặc các phòng ban (Bộ trưởng/thứ trưởng không thuộc diện khảo sát). Ở cấp tỉnh, người trả lời là cán bộ, công chức đến cấp giám đốc sở, ngành, lãnh đạo HÐND tỉnh (Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND tỉnh/thành phố không thuộc diện khảo sát).

Loại thông tin được thu thập trong khảo sát:

Cuộc khảo sát tập trung vào các hành vi có nguy cơ tham nhũng phát sinh trong các giao dịch giữa CBCC và người dân, CBCC và doanh nghiệp cũng như giữa các CBCC.

Tham nhũng trong khu vực tư nhân (như giao dịch giữa các doanh nghiệp) không thuộc phạm vi khảo sát.

Xuyên suốt trong Báo cáo này, cuộc khảo sát đã tìm hiểu mức độ quan tâm đến vấn đề tham nhũng của cả ba nhóm đối tượng, nhận thức và trải nghiệm của họ về tham nhũng ở các cấp, các ngành khác nhau và trong quá trình sử dụng dịch vụ công. Quan điểm về nguyên nhân gây ra tham nhũng, hành vi tố cáo và mua sắm công, cũng như các biện pháp tăng cường hiệu quả của công tác PCTN đều được phản ánh trong cuộc khảo sát. Cuộc khảo sát cũng mong muốn tìm hiểu những vấn đề mới nổi lên và còn nhiều tranh cãi như vấn đề lợi ích nhóm hay công tác tuyển dụng, đề bạt trong khu vực công.

1.3. Phương pháp nghiên cứu.

Phương pháp luận của cuộc khảo sát này được xây dựng trong khoảng 15 năm qua và triển khai ở hàng chục quốc gia trên khắp thế giới. Những nước này có một đặc điểm chung : họ đều có một chính phủ luôn thể hiện cam kết giải quyết vấn nạn tham nhũng và mong muốn biết được bản chất và nguyên nhân gây ra tham nhũng. Cuộc khảo sát này được tiến hành dựa trên những nguyên tắc căn bản như sau :
(i) Cuộc khảo sát tập trung vào nhóm đối tượng có nhiều trải nghiệm nhất trong giao dịch với các cơ quan công quyền, do đó nó không đại diện cho tổng thể dân số Việt Nam;
(ii) Tính ngẫu nhiên trong quá trình chọn mẫu được tôn trọng ở mức tối đa;
(iii) Tất cả các buổi khảo sát đều là phỏng vấn, đối thoại trực tiếp với cá nhân đối tượng trả lời; và
(iv) Việc theo dõi và giám sát nhằm bảo đảm chất lượng khảo sát được tiến hành chặt chẽ trong tất cả các bước của quy trình khảo sát, từ việc chuẩn bị khảo sát, tiến hành khảo sát trên thực địa và giám sát sau khảo sát cho đến quá trình nhập liệu và phân tích kết quả.

Chuẩn bị cho cuộc khảo sát.

Cuộc khảo sát này được tiến hành dưới sự chỉ đạo và hỗ trợ tích cực của TTCP và VPBCÐTƯ. Quy trình chung do Ban Cố vấn hướng dẫn, với sự tham gia của các thành viên đến từ hai cơ quan này, ngoài ra còn có đại diện của Văn phòng Chính phủ, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và NHTG. Một Tổ công tác do TTCP và VPBCÐTƯ đứng đầu đã được thành lập để hỗ trợ và giám sát quá trình nghiên cứu. Từ phía các đối tác phát triển, UK-DFID và UNDP đã phối hợp cùng NHTG để hỗ trợ về chuyên môn, kỹ thuật, và nguồn lực. Nhiều cuộc hội thảo chuyên môn đã được tổ chức giữa các bên trong quá trình chuẩn bị để sắp xếp tổ chức, hậu cần và thống nhất mục tiêu, cách tiếp cận và phương pháp khảo sát, như được trình bày chi tiết dưới đây.

Bảng hỏi và cách tiếp cận để khảo sát do TTCP, VPBCÐTƯ, các đối tác phát triển (NHTG, UK-DFID và UNDP) và nhóm chuyên gia của T&C và APIM phối hợp thiết kế.

Nhóm Tư vấn của T&C và APIM được giao nhiệm vụ trực tiếp tiến hành khảo sát. Ba bộ bảng hỏi dành cho CBCC, lãnh đạo doanh nghiệp và người dân trong cuộc Khảo sát xã hội học 2005 được sử dụng làm tài liệu tham khảo ban đầu. Trong quá trình xây dựng bảng hỏi, nhóm đã tham khảo nhiều bảng hỏi của các cuộc khảo sát tương tự khác do NHTG thực hiện ở khu vực Ðông Âu và Trung Á, và bảng hỏi PAPI của Việt Nam (bảng hỏi này do UNDP phối hợp cùng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và CECODES thực hiện).

Nhờ đó, trong cả ba bộ bảng hỏi, nhóm đã loại bỏ hoặc cập nhật các câu hỏi không còn phù hợp với bối cảnh hiện nay và bổ sung những câu hỏi liên quan đến những vấn đề mới nổi lên như việc đánh giá tình hình tham nhũng, vấn đề về lợi ích nhóm... Bản thảo của bảng hỏi đã được sửa đổi, điều chỉnh sau khi khảo sát thử tại tỉnh Vĩnh Phúc, trong quá trình tập huấn trưởng nhóm và điều tra viên, sau đó được hoàn thiện trước khi sử dụng cho cuộc khảo sát chính thức.

Cách chọn mẫu được thiết kế nhằm phục vụ nhiều mục đích. Vì mục tiêu chính của cuộc khảo sát là để hiểu rõ hơn về tham nhũng nên cả địa bàn và đối tượng phỏng vấn đều được lựa chọn sao cho có thể cung cấp được những ý kiến và trải nghiệm phong phú nhất.

Tổng cộng có tất cả 2.601 người dân, 1.058 doanh nghiệp và 1.801 CBCC được khảo sát. Mẫu khảo sát người dân được chọn từ các hộ dân gần đây có sử dụng các dịch vụ công. Ðể phục vụ cho cuộc khảo sát, mỗi tỉnh/thành phố đã chọn ngẫu nhiên ba quận/huyện và trong mỗi quận/huyện đã chọn ra ba xã/phường cũng trên nguyên tắc ngẫu nhiên. Ở mỗi xã/phường, yêu cầu hai thôn/tổ dân phố - một thôn/tổ ở khu vực trung tâm xã/phường và một ở xa -- cung cấp danh sách những hộ dân đã sử dụng dịch vụ công. Danh sách này có thể do văn phòng UBND xã/phường hoặc trưởng thôn/tổ trưởng dân phố cung cấp một cách khách quan và không được thông báo trước về mục đích của cuộc khảo sát. Ðối tượng phỏng vấn cũng không được biết họ được lựa chọn để trả lời dựa trên cơ sở nào. Từ danh sách đó, các đối tượng phỏng vấn được lựa chọn ngẫunhiên để trả lời theo hình thức phỏng vấn trực tiếp. Với những hộ dân không gặp được sẽ thay thế bằng hộ dân khác trong danh sách theo một nguyên tắc thay thế đã được thống nhất từ trước. Số hộ dân được khảo sát tại mỗi tỉnh/thành phố có dao động tương ứng với quy mô dân số của tỉnh/thành phố, tức là các thành phố lớn nhất sẽ có số đối tượng người dân được phỏng vấn nhiều nhất.

Khảo sát CBCC tiến hành với 1.801 CBCC, trong đó 95% (1.710 người) thuộc các cấp chính quyền địa phương và 5% (90 người) là CBCC của các bộ, ngành. Lý do tỷ lệ CBCC địa phương trong mẫu khá cao là nhằm phản ánh đúng thực tế cơ cấu CBCC hiện nay của Việt Nam. Cơ cấu CBCC từ cấp bộ đến cấp xã/phường được chọn trước theo ngành, vị trí chức danh và nghề nghiệp, nhưng danh tính từng cá nhân cụ thể thì chỉ đến khi phỏng vấn mới được biết. Mỗi bộ sẽ chọn ra 5 vụ/cục và 1 tổng cục, và trong mỗi đơn vị đó sẽ phỏng vấn 3 cán bộ, gồm một lãnh đạo đơn vị và 2 chuyên viên. Cơ cấu CBCC trong mẫu khảo sát tại mỗi tỉnh/thành phố được phản ánh trong Bảng 1, còn chi tiết về mẫu CBCC được mô tả trong Phụ lục A1.

Bảng 1. Cơ cấu CBCC trong mẫu khảo sát tại mỗi tỉnh/thành phố.



Khảo sát doanh nghiệp tiến hành với 1.058 doanh nghiệp thuộc 10 tỉnh/thành phố và được chọn dựa trên quy trình chọn mẫu phân tầng theo ngành, quy mô và loại hình sở hữu của doanh nghiệp sao cho cơ cấu mẫu doanh nghiệp được khảo sát gần sát với cơ cấu tổng thể thực tế. Phân loại doanh nghiệp đăng ký để thực hiện chọn mẫu phân tầng tuân theo quy định phân ngành trong Hệ thống ngành Kinh tế Việt Nam, ban hành theo Quyết định số 10/2007/QÐ-TTg ngày 23-01-2007 của Thủ tướng Chính phủ. Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ, vừa và lớn theo quy mô lao động và vốn theo Nghị định 56/NÐ-CP ngày 30-6-2009; và loại hình sở hữu của doanh nghiệp dựa trên quy định của Luật doanh nghiệp doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước, doanh nghiệp có trên 50% vốn nhà nước, doanh nghiệp có dưới 50% vốn nhà nước, doanh nghiệp tư nhân trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Số doanh nghiệp được khảo sát tại mỗi tỉnh/thành phố được xác định dựa trên số liệu thực tế các doanh nghiệp đang hoạt động theo kết quả tổng điều tra doanh nghiệp năm 2010 của Tổng cục Thống kê. Việc thay thế các doanh nghiệp trong mẫu chỉ được thực hiện khi không tìm thấy doanh nghiệp dự kiến hoặc họ từ chối không tham gia khảo sát sau ít nhất ba lần liên hệ.

Cơ cấu các đối tượng được khảo sát theo tỉnh/thành phố và nhóm đối tượng trong mẫu được phản ánh trong Bảng 2 dưới đây.
Bảng 2. Số đối tượng được khảo sát, theo tỉnh/thành phố và nhóm đối tượng.



Khảo sát thử được triển khai trong hai ngày 21 – 22-12-2011 tại tỉnh Vĩnh Phúc nhằm kiểm định kế hoạch khảo sát và các công cụ khảo sát trên thực tế. 27 cuộc phỏng vấn thử đã được thực hiện. Sau mỗi ngày khảo sát tại thực địa đều có buổi họp ngắn và toàn bộ ngày thứ ba được dùng để rút kinh nghiệm và bài học từ cuộc khảo sát thử.

Tập huấn trưởng nhóm cấp tỉnh và các điều tra viên. Nhóm chuyên gia nòng cốt đã triển khai hai đợt tập huấn cho trưởng nhóm khảo sát cấp tỉnh, một đợt ngay sau khi kết thúc khảo sát thử tại Vĩnh Phúc và một đợt trước khi tiến hành khảo sát chính thức. Các điều tra viên tham dự một đợt tập huấn hai ngày do các trưởng nhóm khảo sát cấp tỉnh tổ chức, với sự hỗ trợ của nhóm chuyên gia nòng cốt. Trưởng nhóm cấp tỉnh được tập huấn về cách thức tổ chức phỏng vấn, cách tập huấn lại cho các điều tra viên về phương pháp phỏng vấn và phương thức theo dõi, giám sát quá trình phỏng vấn. Ðợt tập huấn điều tra viên đặc biệt nhấn mạnh đến những kỹ năng làm thế nào để người trả lời cảm thấy cởi mở khi chia sẻ những trải nghiệm và nhận thức của mình về các vấn đề nhạy cảm.

Khảo sát tại thực địa.

Hầu hết các cuộc phỏng vấn đều được triển khai trong giai đoạn từ 12-3-2012 đến 10-4-2012. Phỏng vấn ở Hà Nội mất nhiều thời gian hơn nên được triển khai sớm hơn (từ 26-2-2012 đến 10-4-2012).

Tất cả các cuộc phỏng vấn đều được tổ chức theo hình thức phỏng vấn cá nhân trực tiếp. Ðối tượng dự phỏng vấn được nhận một bản sao bảng hỏi để giúp theo dõi được các câu hỏi. Sau khi giới thiệu về đợt nghiên cứu, điều tra viên đọc từng câu hỏi, đánh dấu câu trả lời của đối tượng vào phiếu hỏi của điều tra viên trước mặt đối tượng được phỏng vấn.

TTCP và VPBCÐTƯ đóng vai trò rất quan trọng để kết nối nhóm khảo sát với các cơ quan đầu mối tại địa phương, tức là Thanh tra tỉnh/thành phố và/hoặc Văn phòng Ban Chỉ đạo tỉnh/thành phố Phòng chống tham nhũng. Trưởng nhóm khảo sát cấp tỉnh chịu trách nhiệm phỏng vấn trực tiếp đối tượng CBCC cấp tỉnh/thành phố và theo dõi, giám sát quá trình phỏng vấn với các đối tượng khác do điều tra viên địa phương thực hiện.

Ngược lại, điều tra viên chịu trách nhiệm phỏng vấn CBCC cấp quận/huyện và xã/phường, người dân và lãnh đạo các doanh nghiệp. Nhóm chuyên gia nòng cốt trực tiếp tiến hành tất cả các buổi phỏng vấn CBCC cấp bộ.

Giám sát trong và sau quá trình khảo sát tại thực địa. Một cấu trúc giám sát đa tầng đã được thiết kế trong quá trình khảo sát tại thực địa, do Giám sát chung và cũng là tư vấn điều phối tổng thể điều hành. Tầng tiếp theo là ba Giám sát vùng dành cho ba miền Bắc, Trung và Nam. Mỗi Giám sát vùng sẽ chịu trách nhiệm theo dõi tiến độ và kiểm tra ngẫu nhiên kết quả thực địa tại ba tỉnh/thành phố. Ngoài các kênh theo dõi thường xuyên, NHTG, TTCP và VPBCÐTƯ và đối tác cấp tỉnh (Thanh tra tỉnh/thành phố) cũng tiến hành kiểm tra độc lập ngẫu nhiên tại thực địa.

Chất lượng của các phiếu khảo sát sau khi hoàn tất được thẩm định theo bốn kênh:
(i) tự kiểm định;
(ii) trưởng nhóm khảo sát cấp tỉnh thẩm định lại toàn bộ;
(iii) giám sát vùng kiểm tra xác suất; và
(iv) cán bộ NHTG và cán bộ của T&C thẩm định lại.

Sau khi kết thúc các đợt khảo sát tại thực địa, nhóm giám sát đã liên hệ ngẫu nhiên với một số doanh nghiệp và người dân đã tham gia phỏng vấn để đảm bảo các cuộc phỏng vấn đều được tiến hành một cách chuyên nghiệp và chính xác. Giám sát sau không áp dụng với đối tượng là CBCC vì mọi cuộc phỏng vấn với đối tượng này đều đã lên lịch cố định từ trước và bắt buộc phải tuân thủ nghiêm ngặt.

Nhập dữ liệu và phân tích.

Nhóm đã tổ chức việc nhập dữ liệu theo quy trình chuẩn để giảm thiểu các sai số. Tất cả các bảng dữ liệu đều được hai nhóm cán bộ độc lập nhập vào chương trình máy tính hai lần, sau đó đối chiếu để phát hiện và xử lý tất cả các sai lệch nếu có. Tương tự, để giảm thiểu sai số trong quá trình phân tích, việc phân tích do các chuyên gia của NHTG và T&C/APIM phối hợp tiến hành, trong đó chuyên gia này sẽ thẩm định lại tính toán của chuyên gia kia và mọi sai lệch phát hiện đều được nhóm thống nhất trước khi đưa vào báo cáo cuối cùng Các phát hiện ban đầu của cuộc khảo sát được trình bày trước TTCP và VPBCÐTƯ vào tháng 4-2012, và dự thảo đầu tiên của báo cáo này được tham vấn trong hai hội thảo chuyên môn, mỗi hội thảo kéo dài hai ngày vào tháng 5-2012 với Ban Cố vấn, TTCP, VPBCÐTƯ, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Trung ương Ðảng, các bộ, tỉnh/thành phố tham gia khảo sát và với sự hợp tác của các đối tác phát triển DFID và UNDP. Các góp ý xây dựng do các bên hữu quan chia sẻ đã giúp đưa ra những định hướng quan trọng cho nhóm nghiên cứu để điều chỉnh, hoàn thiện nội dung của báo cáo này. Bản dự thảo báo cáo sửa đổi được gửi cho Ban Cố vấn, TTCP và VPBCÐTƯ vào tháng 7-2012 để các bên cho ý kiến cuối cùng.

Phụ lục 1 cung cấp thêm các thông tin chi tiết về phương pháp nghiên cứu, đặc biệt là vấn đề chọn mẫu và cơ chế đảm bảo chất lượng khảo sát.

1.4. Hạn chế của phương pháp nghiên cứu dựa vào khảo sát.

Lợi ích của phương pháp nghiên cứu dựa vào khảo sát để tìm hiểu về vấn đề tham nhũng đã được trình bày ở phần trên. Bên cạnh đó, khảo sát chỉ là một kênh trong nhiều nguồn thông tin khác về hiện tượng tham nhũng, chứ đây không phải là công cụ duy nhất cho phép trả lời mọi câu hỏi. Các số liệu do khảo sát cung cấp chỉ giúp minh họa quy mô của vấn đề, chứ nó khó có thể phản ánh tác động của tham nhũng đến phẩm giá con người hay những cơ hội bị mất do tham nhũng gây ra.
* Khảo sát là phương pháp thích hợp nhất để minh họa tham nhũng trong sự tương tác giữa CBCC và các đối tượng người dân, doanh nghiệp nhưng nó lại không thích hợp cho việc nhận dạng tham nhũng ở những mảng không nằm trong sự tương tác đó, chẳng hạn như hiện tượng tham ô tài sản hay sử dụng công quỹ sai mục đích.
* Vì cuộc khảo sát chú trọng đến các giao dịch giữa CBCC với người dân và doanh nghiệp nên trọng tâm của báo cáo này chủ yếu nhằm vào những khoản chi trả không chính thức và tham nhũng vặt, nhưng điều đó không có nghĩa là tham nhũng quy mô lớn không quan trọng. Tương tự, cách tiếp cận của khảo sát nhằm vào những dạng hành vi tham nhũng mà đa số đối tượng phỏng vấn có thể trải nghiệm. Những hành vi đặc biệt mà chỉ một nhóm nhỏ đối tượng trả lời có thể biết (như thu hồi cho những dự án lớn, tham ô tài sản công) không phải là trọng tâm của cuộc khảo sát này. Mặc dù những hành vi tham nhũng đặc biệt này có thể rất nghiêm trọng nhưng một cuộc khảo sát chọn mẫu như cuộc khảo sát này, ngay cả khi cỡ mẫu tương đối lớn, cũng khó có thể tìm được nhiều đối tượng trả lời nêu được những trải nghiệm như vậy.
* Hạn chế về nguồn lực chỉ cho phép cỡ mẫu ở cấp tỉnh/thành phố tương đối lớn (như mô tả dưới đây), nhưng không đủ lớn để có thể phân tích đầy đủ hơn về kết quả trả lời của tất cả các nhóm đối tượng. Do đó, kết quả khảo sát không đại diện cho ý kiến của tổng thể dân số, doanh nghiệp và đội ngũ cán bộ, công chức của Việt Nam. Thí dụ, một phân tích sâu hơn về tham nhũng trong hệ thống tòa án sẽ yêu cầu phải phỏng vấn cả điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán và luật sư, cũng như các đối tượng có liên quan đến tố tụng. Ðiều này cũng đúng với các dịch vụ như y tế và giáo dục. Khảo sát này không thể đáp ứng được những yêu cầu đó, nhưng đây sẽ là đề tài cần thiết cho các nghiên cứu tiếp theo.
* Cỡ mẫu trung bình ở cấp tỉnh/thành phố (260 người dân và 106 doanh nghiệp) tương tự như cỡ mẫu đã sử dụng trong các cuộc khảo sát khác như PAPI (217 người dân) và PCI (141 doanh nghiệp). Ðồng thời, cỡ mẫu lớn hơn sẽ làm tăng độ chính xác của các
ước lượng trong nghiên cứu này. Như đã giải thích ở Hộp 1, cỡ mẫu lớn hơn cũng đồng nghĩa với việc sẽ hạn chế hơn về số lượng và độ sâu của các câu hỏi cũng như thời gian dành cho nghiên cứu. Do cuộc khảo sát được thực hiện ở 10 tỉnh/thành phố, kết quả
được phân tích phản ánh tốt nhất hiện trạng của các tỉnh/thành phố này, thay vì phản ánh hiện trạng của cả nước.

Hộp 1. So sánh cỡ mẫu trong Khảo sát tham nhũng với các khảo sát khác:
Cỡ mẫu này có đủ lớn hay không?
Trong mọi cuộc khảo sát, quy mô mẫu gắn liền với điều kiện về nguồn lực. Ước lượng sẽ chính xác hơn khi mẫu có nhiều quan sát hơn, nhưng sẽ tốn kém hơn. Quy mô mẫu càng lớn thì càng mất nhiều thời gian để khảo sát và chi phí cao hơn. Với một ngân sách và thời lượng có hạn, cỡ mẫu lớn có nghĩa là số lượng và độ sâu của các câu hỏi sẽ bị ảnh hưởng.
Mối quan hệ giữa cỡ mẫu và độ chính xác của các ước lượng được phản ánh qua một thí dụ. Một câu hỏi trong khảo sát là người trả lời có biết làm thế nào để tố cáo một hành vi tham nhũng hay không. Ở tất cả 10 tỉnh/thành phố và với 2.601 người dân, 47,3% số người được hỏi đã trả lời là "có", nhưng đây chỉ là một ước lượng. Chúng ta có 95% tin tưởng rằng tỷ lệ sốngười thực sự biết cách tố cáo một hành vi tham nhũng là trong khoảng từ 45,4% đến 49,3%.
Tuy nhiên, ở cấp tỉnh/thành phố, các ước lượng sẽ kém chính xác hơn nhiều. Thí dụ, ở một tỉnh nhỏ hơn với 180 quan sát, 56,7% số người trả lời "có" nhưng vì có ít quan sát hơn nên ước lượng này thiếu chính xác hơn. Chúng ta có 95% tin tưởng rằng số người thực sự biết cách tố cáo một hành vi tham nhũng ở tỉnh này là trong khoảng 49,4% đến 64,0% (5).

















Số quan sát trung bình trong một tỉnhBiên độ sai số gần đúng của các ước lượng
Người dân260±6%
Doanh nghiệp106±10%
CBCC180±7%



















Tất cả 10 tỉnh/thành phốBiên độ sai số gần đúng của các ước lượng
Người dân2.601± 2%
Doanh nghiệp1.058± 3%
CBCC1.801± 2%



1.5. Bố cục của Báo cáo

Ngoài phần giới thiệu tổng quan này, Báo cáo được kết cấu như sau : Phần II trình bày những phát hiện chính về mức độ và dạng tham nhũng theo phản ánh của các đối tượng phỏng vấn, nghiên cứu cách hiểu về thuật ngữ "tham nhũng", nhận thức về tham nhũng ở các cấp, các ngành khác nhau và trải nghiệm thực tế với hiện tượng tham nhũng ở các cơ quan nhà nước. Phần này cũng liên hệ với các cuộc khảo sát khác như PAPI và PCI, và so sánh kết quả của lần khảo sát năm 2005 với lần khảo sát năm 2012 này. Phần III đưa ra những kết luận và khuyến nghị chính. Phần IV là phần phụ lục bổ sung thêm thông tin về phương pháp nghiên cứu và một số các phân tích khác.

Vì ước lượng ở cấp tỉnh/thành phố kém chính xác nên trong Báo cáo này, chúng tôi thường không rút ra kết luận về mức độ tham nhũng ở cấp tỉnh/thành phố mà tập trung vào những phát hiện về bản chất và nguyên nhân gây ra tham nhũng ở cấp độ tổng quát hơn.



_ Chú thích :

1. Thụy Ðiển là trưởng nhóm đối tác trong lĩnh vực PCTN trong phần lớn thời gian của thời kỳ này. Hiện nay, Vương quốc Anh là nhà trưởng nhóm đối tác trong lĩnh vực PCTN.
2. Các cuộc điều tra doanh nghiệp bao gồm Ðiều tra Chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) (tổ chức hằng năm kể từ năm 2005), Ðiều tra doanh nghiệp của NHTG (2009), Ðiều tra mẫu lặp về doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ðại học Côpenhaghen và Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương (2005, 2007, 2009) và Khảo sát doanh nghiệp của Sáng kiến minh bạch và liêm chính trong kinh doanh (2011), Khảo sát người dân bao gồm Môđun Quản trị nhà nước trong Ðiều tra mức sống hộ gia đình (2008), Phong vũ biểu tham nhũng toàn cầu do tổ chức Minh bạch quốc tế thực hiện (2011), và Chỉ số Kết quả nền hành chính công và quản trị nhà nước cấp tỉnh (PAPI) (2011-2).
Các nghiên cứu cụ thể theo ngành bao gồm nghiên cứu của tổ chức Hướng tới sự minh bạch về ngành y tế (2011) và thanh niên (2011), và những nghiên cứu khác do TTCP đề xướng với sự hỗ trợ của UNDP về giáo dục, y tế và đất đai. Các khía cạnh có liên quan đến quản trị nhà nước, chẳng hạn như việc tiếp cận thông tin, cũng là chủ đề của các khảo sát, ví dụ như nghiên cứu của NHTG về tính minh bạch trong các tài liệu liên quan đến đất đai.
3. "Mức độ phổ biến" ở đây được hiểu là mức độ mà các hành vi tham nhũng diễn ra trên diện rộng : số vụ tham nhũng, số đối tượng tham nhũng bị phát hiện và xử lý. "Mức độ nghiêm trọng" được hiểu là những thiệt hại về kinh tế do tham nhũng gây ra, mức độ phức tạp của vụ việc tham nhũng và khó khăn trong việc phát hiện tham nhũng.
4. "CBCC" trong cuộc khảo sát CBCC bao gồm cả cán bộ làm việc trong HÐND các cấp ở địa phương và viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công.
5. Thí dụ minh họa ở đây giả định dạng câu hỏi có/không có xấp xỉ 50% số người chọn câu trả lời "có". Con số này đưa ra chỉ có tính chất minh họa. Ðối với CBCC, đối tượng chưa có số liệu chi tiết về tổng thể, ước lượng về khoảng tin cậy đặc biệt thiếu chính xác.


(Còn tiếp).

1    2    3

Popular posts from this blog

Trận hải chiến Hoàng Sa 1974.

Đánh giá Hạm đội 6 chiếc tàu ngầm lớp Kilo của Việt Nam

Nhà Trắng bất thình lình nổ ra nội chiến về thương mại