Siêu cường trước đây và siêu cường tương lai



Tại sao Trung Quốc sẽ không vượt qua Mỹ


Một chiếc F / A-18 của Hải quân Hoa Kỳ cất cánh từ tàu sân bay USS Carl Vinson trong một bức ảnh tài liệu không đề ngày được phát hành vào ngày 20 tháng 11. U.S. NAVY / HANDOUT VIA REUTERS 
Stephen G. Brooks và William C. Wohlforth. Tháng 5/tháng 6. Theo FOREIGN AFFAIRS

Trần H Sa lược dịch

STEPHEN G. BROOKS là Phó Giáo sư môn Chính trị học tại Đại học Dartmouth. WILLIAM C. WOHLFORTH  là Giáo sư môn Chính trị học tại Đại học Dartmouth. Bài viết này được chuyển thể từ cuốn sách sắp tới của họ : Vai trò toàn cầu của Hoa Kỳ trong thế kỷ 21 (Oxford University Press, 2016).

Sau hai thập kỷ rưỡi, phải chăng xu thế Hoa Kỳ như là siêu cường duy nhất của thế giới sắp kết thúc ? Nhiều người nói có, họ nhìn thấy một Trung Quốc đang lên sẵn sàng bắt kịp hoặc thậm chí qua mặt Mỹ trong tương lai gần. Bằng nhiều tiêu chuẩn đánh giá, rốt cuộc, nền kinh tế của Trung Quốc đang trên đường trở thành lớn nhất thế giới, và ngay cả khi tăng trưởng chậm lại, nó vẫn sẽ đi nhanh hơn Hoa Kỳ trong nhiều năm. Kho bạc của nó đầy tràn, Bắc Kinh xử dụng sự giàu có mới của mình để thu hút bạn bè, ngăn chặn kẻ thù, hiện đại hóa quân sự, và hung hăng khẳng định các tuyên bố chủ quyền ở ngoại vi của nó. Do đó, với nhiều người, vấn đề không phải là liệu Trung Quốc có sẽ trở thành một siêu cường hay không, mà vấn đề là nó sẽ sớm trở thành như thế nào.

Nhưng đây là mơ tưởng, hay chỉ là ý nghĩ sợ hãi. Tăng trưởng kinh tế không còn trực tiếp biến thành sức mạnh quân sự như nó đã từng trong quá khứ, điều đó có nghĩa rằng bây giờ là khó khăn hơn bao giờ hết, cho một cường quốc đang lên đứng dậy, và một cường quốc đã được cũng cố bị sụp đổ. Và Trung Quốc - nước duy nhất với tiềm năng bất chính trở thành một nuớc thực sự ngang hàng với Hoa Kỳ trên toàn cầu - cũng phải đối mặt với một thách thức khó khăn hơn nhiều so với các nước đang lên trước đó, bởi vì mức độ tụt hậu công nghệ của nó. Mặc dù sự thống trị kinh tế của Hoa Kỳ đã bị xói mòn từ đỉnh điểm, ưu thế quân sự của nước này chẵng mất đi đâu, cấu trúc liên minh mở rộng toàn cầu của nó, qua đó tạo thành cốt lõi trật tự thế giới tự do hiện có cũng chẵng mất đi đâu (trừ phi Washington dại dột quyết định vứt nó đi ). Thay vì chờ đợi một sự chuyển đổi quyền lực trong chính trị quốc tế, mọi người nên bắt đầu làm quen với một thế giới trong đó Hoa Kỳ vẫn là siêu cường duy nhất trong nhiều thập kỷ tới.

Sự xuất sắc bền vững sẽ giúp Hoa Kỳ tránh khỏi nguy hiểm tầm quốc tế mang tính truyền thống to lớn nhất, đó là chiến tranh giữa các nước lớn trên thế giới. Và nó sẽ cung cấp các tùy chọn cho Washington đối phó với các mối đe dọa phi nhà nước như chủ nghĩa khủng bố và những thách thức xuyên quốc gia như biến đổi khí hậu. Nhưng nó cũng sẽ áp đặt gánh nặng lên giới lãnh đạo và những lựa chọn bắt buộc trong các ưu tiên cạnh tranh, đặc biệt như là tài chính ngày càng túng thiếu hơn. Với sức mạnh lớn dẫn đến trách nhiệm lớn, như thường nói, và để thành công đóng vai trò lãnh đạo, sẽ yêu cầu Washington bày tỏ một sự chín chắn mà chính sách đối ngoại của Mỹ đã quá thường xuyên thiếu hụt.


Tổng thống Mỹ Barack Obama và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Hội nghị thượng đỉnh an ninh hạt nhân tại Washington, tháng 3 năm 2016.Kevin Lamarque / REUTERS
 SỰ GIÀU CÓ CỦA CÁC QUỐC GIA

Trong dự báo vị thế quyền lực tương lai của Trung Quốc, nhiều thách thức cấp bách trong nước đã được tìm hiểu : nền kinh tế chậm lại, môi trường ô nhiễm, tham nhũng tràn lan, thị trường tài chính đầy nguy hiểm, không tồn tại mạng lưới an sinh xã hội, dân số già đi nhanh chóng , và tầng lớp trung lưu bất ổn. Nhưng nguy hại ngang bằng những vấn đề này, ấy là, gót chân Achilles thực sự của Trung Quốc trên sân khấu thế giới là một cái gì đó khác nửa : sự tinh thông công nghệ thấp kém của nó so với Hoa Kỳ. So với các cường quốc đang lên trong quá khứ, Trung Quốc có một khoảng cách công nghệ rộng lớn hơn nhiều, cần phải khép lại để được là một cường quốc hàng đầu. Trung Quốc có thể xuất khẩu hàng loạt container hàng hóa công nghệ cao, nhưng trong một thế giới sản xuất toàn cầu hóa, mà ít ai biết; một nửa trong số tất cả các hàng xuất khẩu của Trung Quốc bao gồm những gì mà các nhà kinh tế học gọi là "thương mại chế biến," có nghĩa là các bộ phận được nhập khẩu vào Trung Quốc để lắp ráp và rồi xuất khẩu sau đó. Và phần lớn trong số xuất khẩu này của Trung Quốc, chúng không do các công ty Trung Quốc điều khiển, mà do các tập đoàn từ nhiều quốc gia phát triển hơn điều khiển chỉ đạo.

Khi nhìn vào các tiêu chuẩn năng lực công nghệ, qua đó phản ánh tốt hơn nguồn gốc quốc gia của giới chuyên môn, vị trí thực sự của Trung Quốc trở nên rõ ràng. Ví dụ, dử liệu của Ngân hàng Thế giới về các khoản thanh toán trong việc xử dụng tài sản trí tuệ, chỉ ra rằng Hoa Kỳ chắc chắn là nguồn gốc hàng đầu về công nghệ tiên tiến, tự hào với khoản thu 128 tỷ $ vào năm 2013 - nhiều hơn bốn lần so với nước hạng nhì, Nhật Bản. Trung Quốc, ngược lại, nhập khẩu công nghệ trên quy mô lớn gần 1 tỷ $ vào năm 2013 cho việc xử dụng các tài sản trí tuệ . Một chỉ số rỏ ràng khác về khoảng cách công nghệ là con số của cái gọi là bằng sáng chế bộ ba, những bằng sáng chế đăng ký tại Hoa Kỳ, Châu Âu, và Nhật Bản. Trong năm 2012, gần 14.000 bằng sáng chế như vậy có nguồn gốc ở Hoa Kỳ, so với chỉ dưới 2.000 ở Trung Quốc. Sự phân bố các bài báo có ảnh hưởng lớn trong giới khoa học và kỹ thuật - những bài thuộc một phần trăm trên cùng được trích dẫn, như đo lường bởi Quỷ tài trợ khoa học quốc gia - nói về cùng một câu chuyện, trong đó Hoa Kỳ chiếm gần một nửa trong số những bài viết này, gấp tám lần phần đóng góp của Trung Quốc. Phân tích các giải thưởng Nobel về Vật lý, Hóa học, và Sinh lý học và Y học cũng như vậy. Kể từ năm 1990, 114 giải đi đến từ các nhà nghiên cứu tại Mỹ. Các nhà nghiên cứu có cơ sở ở Trung Quốc nhận được hai giải.

Chính vì nền kinh tế của Trung Quốc không giống như nền kinh tế Mỹ, thước đo thúc đẩy kỳ vọng một sự thay đổi quyền lực là GDP, đánh giá rất không đúng mức khoảng cách kinh tế thực sự giữa hai nước. Trước hết, sự tàn phá to lớn mà Trung Quốc hiện đang trút lên môi trường của nó, được bao gồm để tính một cách có lợi cho GDP của nó, mặc dù điều đó sẽ làm giảm khả năng kinh tế theo thời gian, bằng cách rút ngắn tuổi thọ và gia tăng chi phí vệ sinh và chi phí chăm sóc y tế. Mặt khác, GDP nguyên gốc được thiết kế để đo lường các nền kinh tế sản xuất hồi giữa thế kỷ hai mươi, và do đó, sự sản xuất của một quốc gia càng dựa trên tri thức và toàn cầu hóa thì, việc đánh giá GDP của nó càng không đúng với kích thước thật nền kinh tế của nó.

Một thống kê mới, được trình bày bởi Liên Hiệp Quốc cho thấy mức độ mà GDP thổi phồng sức mạnh tương đối của Trung Quốc. Được gọi là "sự giàu có trọn gói", tiêu chuẩn này thể hiện nỗ lực có hệ thống nhất của các nhà kinh tế cho đến nay, để tính toán sự giàu có của một quốc gia. Theo một báo cáo của Liên Hiệp Quốc giải thích, nó tính tài sản dự trử của một quốc gia trong ba lĩnh vực: "(i) vốn sản xuất (đường sá, nhà cửa, máy móc, thiết bị), (ii) nguồn nhân lực (kỹ năng, giáo dục, y tế) , và (iii ) vốn tự nhiên (nguồn tài nguyên đất đai, hệ sinh thái, không khí)" . Hợp lý, "giàu có trọn gói" của Hoa Kỳ gần 144 ngàn tỷ $ - gấp 4,5 lần của Trung Quốc, 32 ngàn tỷ $.

Kích thước thực sự của nền kinh tế Trung Quốc so với Mỹ có thể nằm đâu đó ở giữa các con số được cung cấp bởi GDP và sự giàu có trọn gói, và phải thừa nhận rằng, tiêu chuẩn thứ nhì (sự giàu có trọn gói, nd) vẫn chưa nhận được sự khảo sát kỷ lưỡng cùng một mức độ như GDP. Tuy nhiên, vấn đề với GDP, là nó đo lường một dòng chảy (thông thường, giá trị của hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong một năm), trong khi sự giàu có trọn gói đo lường một dự trử . Như The Economist viết về nó, "đánh giá một nền kinh tế theo GDP của nó cũng giống như đánh giá một công ty bằng lợi nhuận hàng quý của nó, mà không bao giờ lén nhìn vào bảng cân đối của nó". Bởi vì sự giàu có trọn gói đo lường vốn liếng các tài nguyên mà một chính phủ có thể vẽ ra để đạt được mục tiêu chiến lược của nó, một cách có thể tin được , nó là thước đo hữu ích hơn khi nghĩ về sự cạnh tranh địa chính trị.

Nhưng dù sao đi nửa, khi người ta so sánh kích thước các nền kinh tế Mỹ và Trung Quốc, rõ ràng rằng Hoa Kỳ có rất nhiều khả năng chuyển đổi các nguồn lực của nó vào sức mạnh quân sự. Trong quá khứ, các quốc gia đang lên có mức độ năng lực công nghệ tương tự như của những nước hàng đầu. Ví dụ, vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, Hoa Kỳ đã không tụt hậu quá xa so với Vương quốc Anh về lãnh vực công nghệ, Đức cũng không tụt hậu quá xa so với các nước cựu đồng minh trong những năm giữa hai cuộc thế chiến, cũng không phải là Liên Xô có công nghệ lạc hậu so với Hoa Kỳ trong thời kỳ đầu chiến tranh lạnh. Điều này có nghĩa rằng vào những lúc như thế, mà những thách thức này nổi lên về mặt kinh tế, ngay tức thì chúng có thể gắn kết một thách thức quân sự nghiêm trọng đối với quyền lực thống trị. Tuy nhiên, với công nghệ tương đối lạc hậu của Trung Quốc hiện nay, có nghĩa là ngay cả khi nền kinh tế của nó tiếp tục tiến bộ, sẽ không phải dễ dàng cho nó bắt kịp về mặt quân sự, và trở thành một nước thực sự ngang hàng trên chiến lược toàn cầu , chống đối với một cầu thủ lớn duy nhất trong khu vực lân cận của riêng nó .


Một người đàn ông nhìn vào tàu sân bay USS Ronald Reagan của Mỹ tại Busan, Hàn Quốc, tháng Bảy năm 2008. Jo Yong-Hak / REUTERS
 RÀO CẢN GIA NHẬP

Sự khác biệt về công nghệ và kinh tế giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ sẽ không có vấn đề gì nhiều, nếu tất cả đã đạt được khả năng xử dụng vũ lực tại địa phương như là vị thế của siêu cường. Nhưng những gì làm cho Hoa Kỳ là một siêu cường, chính là khả năng hoạt động toàn cầu của nó, và chuẩn mực cho khả năng đó là rất cao. Có nghĩa là nó có những gì mà nhà khoa học chính trị Barry Posen gọi là "điều khiển dử liệu chung" (command of the commons) - nghĩa là kiểm soát bầu trời, không gian, và biển mở, cùng với cơ sở hạ tầng cần thiết cho việc quản lý các lĩnh vực này. Khi người ta đo lường 14 hạng mục của hệ thống tạo ra khả năng này (tất cả mọi thứ từ tàu ngầm tấn công hạt nhân đến vệ tinh đến máy bay vận chuyển ), những gì trở nên nổi tiếng là lợi thế áp đảo của Mỹ trong từng lĩnh vực, kết quả của nhiều thập niên tiến bộ trên nhiều mặt trận. Nó sẽ mất một thời gian rất dài đối với Trung Quốc để tiếp cận được sức mạnh Mỹ trên bất kỳ thứ gì của các mặt trận này, huống hồ tất cả chúng.

Trước hết, Hoa Kỳ đã xây dựng được một cơ sở khoa học và công nghiệp khổng lồ. Trung Quốc đang nhanh chóng tăng cường ở đầu vào công nghệ, gia tăng chi tiêu R & D và số lượng sinh viên tốt nghiệp có trình độ khoa học và kỹ thuật. Nhưng có những giới hạn cho bất cứ nước nào có thể nhanh chóng nhảy về phía trước trong các vấn đề như vậy, và có những trở ngại khác nhau trong cách của Trung Quốc - chẵng hạn như thiếu bảo vệ sở hữu trí tuệ có hiệu quả và các phương pháp kém hiệu quả trong việc phân bổ vốn - điều đó sẽ là vô cùng khó khăn để thay đổi, trước hệ thống chính trị cứng nhắc của nó. Khó khăn khác nửa, Trung Quốc đang theo đuổi một mục tiêu di động. Trong năm 2012, Mỹ đã chi 79 tỷ $ về quân sự R & D, gấp 13 lần so với số tiền ước tính của Trung Quốc, vì vậy ngay cả những tiến bộ nhanh chóng của Trung Quốc cũng có thể là không đủ để thu hẹp khoảng cách.

Sau nửa, có những thập kỷ Hoa Kỳ đã chi mua sắm các hệ thống vũ khí tiên tiến, một công việc mà đã trở nên phức tạp hơn theo thời gian. Trong những năm 1960, máy bay mất khoảng năm năm để phát triển, nhưng vào những năm 1990, khi số lượng các bộ phận và các dòng mã nguồn tăng vọt, con số này mất tới mười năm. Hôm nay, phải mất 15 - 20 năm để thiết kế và xây dựng các máy bay chiến đấu tiên tiến nhất, và vệ tinh quân sự thì có thể thậm chí mất lâu hơn. Vì vậy, thậm chí khi nước khác quản lý việc xây dựng cơ sở khoa học và công nghiệp để phát triển nhiều loại vũ khí, qua đó cung ứng cho "điều khiển các dử liệu chung" của Hoa Kỳ, sẽ có một khoảng tụt hậu lâu dài trước khi nó thực sự có thể sở hữu chúng. Ngay cả các nhà hoạch định quốc phòng Trung Quốc cũng nhận ra được quy mô của thách thức này.

Điều khiển dử liệu chung cũng đòi hỏi khả năng giám sát một loạt các dự án quốc phòng khổng lồ. Trước mọi sự la ó về các tệ nạn của khu liên hợp công nghiệp - quân sự và "chất thải, sự gian lận và sự lạm dụng" ở Lầu Năm Góc, tại Hoa Kỳ, các phòng thí nghiệm nghiên cứu, các nhà thầu, và các quan chức đã chịu khó thu thập tài năng chuyên môn này trong nhiều thập kỷ, và đối tác Trung Quốc của họ chưa có nó. Loại kinh nghiệm "vừa học vừa làm" này hiện có trong các tổ chức, không ở trong cá nhân. Nó chỉ có thể được chuyển nhượng thông qua trình diễn và hướng dẫn, vì vậy trộm cắp không gian mạng hoặc các hình thức khác của hoạt động gián điệp không phải là con đường tắt hiệu quả cho việc thu thập, nắm bắt nó.

Công nghiệp quốc phòng của Trung Quốc vẫn còn trong giai đoạn trứng nước, và như học giả Richard Bitzinger và các đồng nghiệp của ông đã kết luận, "Ngoài một vài nhóm biệt lập xuất sắc như tên lửa đạn đạo, khu liên hợp công nghiệp - quân sự của Trung Quốc có vẻ chỉ chứng minh một vài năng lực trong việc thiết kế và sản xuất các hệ thống vũ khí thông thường tương đối tiên tiến". Ví dụ, Trung Quốc vẫn không thể sản xuất hàng loạt động cơ máy bay hiệu suất cao, mặc dù nó đã nỗ lực ném vào công việc đó các nguồn lực to lớn, thay vì dựa trên các mô hình hạng hai của Nga. Tại các lĩnh vực khác, Bắc Kinh thậm chí không bận tâm cạnh tranh. Hãy xét chiến tranh ngầm dưới mặt biển. Trung Quốc trang bị kém cỏi cho loại chiến tranh chống tàu ngầm và đang làm rất ít để cải thiện. Và bây giờ nó chỉ là quốc gia có khả năng sản xuất tàu ngầm tấn công chạy bằng hạt nhân, loại tàu có thể so sánh về sự yên tĩnh đối với các loại mà Hải quân Mỹ trang bị vào những năm 1950. Tuy nhiên, kể từ đó, chính phủ Mỹ đã đầu tư hàng trăm tỷ đô la và sáu thập kỷ nỗ lực cho tàu ngầm lớp Virginia của thế hệ hiện tại, loại tàu ngầm đã đạt được mức độ im lặng tuyệt đối .

Cuối cùng, phải có một tập hợp kỹ năng và cơ sở hạ tầng rất đặc biệt để xử dụng tất cả các loại vũ khí trên thực tế. Việc xử dụng chúng là khó khăn, không chỉ vì bản thân vũ khí tự có xu hướng phức tạp như vậy, mà còn vì chúng thường cần phải được xử dụng một cách đồng bộ. Đây là một nỗ lực vô cùng phức tạp, ví dụ, để khai triển một nhóm tàu ​​sân bay chiến đấu; nhiều tàu và máy bay liên quan phải làm việc cùng nhau, cùng lúc. Ngay cả các hệ thống có thể có vẻ đơn giản, cũng đòi hỏi kiến ​​trúc ngoại vi phức tạp để thực sự có hiệu quả. Ví dụ, máy bay không người lái, chỉ hoạt động tốt nhất khi quân đội có nhân viên được đào tạo thành thạo để vận hành chúng, năng lực công nghệ và khả năng tổ chức thu thập nhanh chóng, xử lý và hành động dựa trên thông tin thu thập được từ chúng. Phát triển cơ sở hạ tầng cần thiết để tìm kiếm "điều khiển dử liệu chung" sẽ tốn một thời gian rất dài cho bất kỳ quân đội nào. Và vì nhiệm vụ đặt ra một chi phí bảo hiểm cao trên tính linh hoạt và sự uỷ thác, các lực lượng tập trung và phân cấp của Trung Quốc thì đặc biệt kém cỏi để phù hợp với điều đó.

Phần cuối


---------------------------------------|||----------------------------------------

Popular posts from this blog

Trận hải chiến Hoàng Sa 1974.

Đánh giá Hạm đội 6 chiếc tàu ngầm lớp Kilo của Việt Nam

Nhà Trắng bất thình lình nổ ra nội chiến về thương mại