Hợp tác từ sức mạnh. Hoa Kỳ, Trung quốc và biển Đông.


CHƯƠNG I.
Hợp tác từ sức mạnh: Chiến lược của Hoa Kỳ và biển Đông


By Patrick M. Cronin and Robert D. Kaplan. The Center for a New American Security.
JANUARY / 2012. Theo CNAS

Patrick M. Cronin là Cố vấn cao cấp và Giám đốc cao cấp của Chương trình An ninh châu Á-Thái Bình Dương. Trung tâm An ninh mới của Mỹ.


PHẦN I.



Trần H Sa Lược dịch.

I. TÓM TẮT

Lợi ích của Mỹ đang ngày càng có nguy cơ tại Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) do kinh tế và quân sự trỗi dậy của Trung Quốc và mối quan tâm về điều ấy sẽ sẵn sàng tán thành các tiêu chuẩn hợp pháp hiện hành. Hoa Kỳ và các quốc gia ở khắp khu vực có lợi ích trường cửu và sâu sắc trên lãnh vực thông tin liên lạc tuyến biển mà nó vẫn đang mở cửa cho tất cả mọi người, trên cả hai phương diện thương mại và hoạt động quân sự hòa bình như can thiệp nhân đạo và tuần tra ven biển . Tuy nhiên, Trung Quốc, tiếp tục thách thức sự cởi mở đối với cả hai lãnh vực vừa nêu bằng cách đặt vấn đề hàng hải theo tiêu chí lịch sử , với việc phát triển khả năng quân sự cho phép Trung Quốc đe dọa các phương tiện đến gần hoặc đi vào khu vực hàng hải này.


Tầm quan trọng địa chiến lược của Biển Đông thì khó mà phóng đại. Chức năng Biển Đông ( Biển Nam Trung Hoa ) như cổ họng của Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ dương - một khối lượng to lớn các nền kinh tế liên kết đan xen nhau, nơi mà các tuyến đường biển toàn cầu kết hợp lại, đem lại chừng 1,2 nghìn tỷ USD trong thương mại hàng năm của Mỹ . Nó là cái rốn nhân khẩu học của kinh tế toàn cầu thế kỷ 21, nơi có 1,5 tỷ dân của Trung Quốc, gần 600 triệu người ở Đông Nam Á và 1,3 tỷ dân của tiểu lục địa Ấn Độ, chuyển tải các nguồn tài nguyên quan trọng và trao đổi hàng hóa qua khu vực và khắp toàn cầu. Nó là một khu vực có hơn một nửa tá các nước có chồng chéo chủ quyền lãnh thổ trên đáy biển có trữ lượng dầu đã được chứng minh 7000000000 ( bảy tỷ ) thùng cũng như khoảng 900 nghìn tỷ foot khối ( chừng 255 nghìn tỷ mét khối.*..BHM ) khí tự nhiên.

Bảo vệ lợi ích của Mỹ và phát huy hiện trạng không cần phải - và không nên dẫn đến xung đột với Trung Quốc. Cả Hoa Kỳ và Trung Quốc sẽ tiếp tục được hưởng lợi từ hợp tác và, thực sự, không một quốc gia châu Á nào được hưởng lợi từ hệ thống do Hoa Kỳ lãnh đạo quốc tế, nhiều hơn Trung Quốc. Tuy nhiên, việc quản lý tình trạng căng thẳng và thúc đẩy hợp tác ở Biển Đông sẽ đòi hỏi phải kiên trì, sự chú ý cẩn thận ở Washington.

Trong những thập kỷ tới, thách thức đối với Hoa Kỳ là sẽ làm thế nào để bảo quản các định mức lịch sử liên quan đến tự do hàng hải trong khi thích ứng với sức mạnh ngày càng tăng và hoạt động của các nhân tố trong khu vực, trong đó có Trung Quốc. Mục đích là hợp tác, nhưng hợp tác có thể tốt nhất được thúc đẩy từ một vị thế của sức mạnh. Điều này sẽ đòi hỏi Mỹ phải duy trì sức mạnh và hợp tác khu vực rộng hơn, một khái niệm mà có thể được gọi là " hợp tác ưu việt ."

Để bảo vệ lợi ích của Mỹ và đồng minh ở Biển Đông và bảo tồn lâu dài các tiêu chuẩn quy phạm pháp luật, hoạch định chính sách của Mỹ cần thực hiện năm bước đại cương :

Đầu tiên, Hoa Kỳ cần tăng cường hiện diện hải quân trong thời gian dài bằng cách xây dựng hướng tới một hạm đội 346 tàu chứ không phải là rút xuống 250 tàu, dấu ấn mà Hoa Kỳ phải đối mặt với cắt giảm ngân sách và ngừng hoạt động các tàu chiến lão hóa trong thập kỷ tới. Ràng buộc ngoại giao, kinh tế với Trung Quốc và những nước khác sẽ hoạt động tốt hơn khi được hỗ trợ bởi tư thế quân sự đáng tin cậy. Tuy nhiên, phát triển hải quân phải được phụ thuộc vào tăng trưởng kinh tế lành mạnh trong tương lai - Một ưu tiên chiến lược đối với Hoa Kỳ.

Thứ hai, Hoa Kỳ nên thúc đẩy một chuổi liên hệ mới trong quan hệ đối tác an ninh. Mô hình liên minh " trục và nan hoa " giữa Hoa Kỳ và các đối tác Đông Á đang bị lu mờ bởi một mạng lưới các mối quan hệ quá rườm rà , rộng hơn, phức tạp hơn mà trong đó các nước châu Á là điều khiển chính. Xây dựng một mạng lưới phân bổ các đối tác mạnh mẽ hơn và đồng minh trong khu vực Đông Nam Á phải là một mục tiêu dài hạn, quan trọng của Hoa Kỳ.

Thứ ba, Hoa Kỳ cần phải đảm bảo rằng hòa bình và an ninh trong vùng biển Nam Trung Hoa vẫn còn ở hàng đầu trong chương trình nghị sự ngoại giao và an ninh của mình. Tự do hàng hải là một mối quan tâm phổ quát, và hợp tác hàng hải và cơ chế giải quyết tranh chấp một cách hòa bình nên tiếp tục được giải quyết trong các diễn đàn khu vực. Hoa Kỳ cũng cần xây dựng các tổ chức đa phương về lâu về dài trong khi thừa nhận rằng có thể cần phải tập trung vào song phương hoặc phương pháp tiếp cận thực tế khá khách quan tránh khiêu khích Trung Quốc.

Thứ tư, Hoa Kỳ nên thúc đẩy hơn nữa việc hội nhập kinh tế trong khu vực, cũng như giữa Hoa Kỳ và khu vực, tập trung đặc biệt về thương mại. Thương mại là sự phổ biến các lĩnh vực ở châu Á và có thể giúp liên kết chiến lược đầu tư của Mỹ vào khu vực năng động nhất trên thế giới.

Thứ năm và cuối cùng, Hoa Kỳ sẽ cần chỉnh đốn lại chính sách đối với Trung Quốc . Điều này sẽ đòi hỏi hoạt động ngoại giao và tham gia kinh tế được hỗ trợ bởi quân sự mạnh mẽ của Mỹ và một nền kinh tế phát triển. Một chính sách thực tiển bắt đầu bằng cách củng cố nâng cấp quyền lực Mỹ, sau đó hỗ trợ tích cực dựa trên luật lệ hợp tác; tránh xung đột quân sự nhưng không mâu thuẩn ngoại giao.

II .GIỚI THIỆU

Lợi ích của Mỹ đang ngày càng có nguy cơ tại Biển Đông . Bảo vệ những lợi ích này không cần - và không nên dẫn đến xung đột với Trung Quốc. Tuy nhiên, quản lý căng thẳng và thúc đẩy hợp tác trong Biển Đông sẽ yêu cầu kiên trì, chú ý cẩn thận ở Washington.

Tầm quan trọng của Biển Đông vẫn còn bị định giá thấp, chủ yếu là tranh luận giữa các chuyên gia về khu vực chứ không phải bởi một mặt cắt rộng của ảnh hưởng an ninh quốc gia. Tuy nhiên, Biển Đông cần được quan tâm ưu tiên. Khi hệ thống dựa trên luật lệ từ các thập kỷ trước đây do Hoa Kỳ cổ vủ đang bị đánh thức bởi sự trổi dậy cuả Trung quốc, Biển Đông sẽ là chiến lược hàng đầu để xác định tương lai lãnh đạo của Mỹ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Các vấn đề liệu Tây Thái Bình Dương vẫn còn là khu vực mở, ổn định và hàng hải chung thuận lợi hoặc ngày càng trở thành một mảnh đất màu mỡ phân cực, tranh luận cứng nhắc như thời Chiến tranh Lạnh có khả năng tồn tại trong vùng biển quan trọng này.

Biển Đông là nơi các quốc gia như Việt Nam, Malaysia và Philippines phải đối mặt với "bá quyền" ( “Finlandization” ) của Trung Quốc nếu hải quân và không lực Mỹ giảm bớt. Biển Đông, trong ngắn hạn, là nơi toàn cầu hoá và va chạm địa chính trị .Trong phạm trù kinh tế thế giới có một trung tâm địa lý, đó là vùng biển Đông..Khoảng 90% hàng hoá thương mại đi từ lục địa này đến lục địa khác bằng đường biển, và một nửa hàng hoá tính theo tổng trọng tải (một phần ba giá trị tiền tệ) đi qua Biển Đông.

Chức năng Biển Đông như cổ họng của Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ dương - một khối lượng to lớn các nền kinh tế liên kết đan xen nhau, nơi mà các tuyến đường biển toàn cầu kết hợp lại, đem lại chừng 1,2 nghìn tỷ USD trong thương mại hàng năm của Mỹ . Sự phụ thuộc quá mức của Trung Quốc vào một Eo biển Malacca an toàn - cái gọi là "Malacca nan giải" - được chia sẻ ở một chừng mực nào đó bởi tất cả các quốc gia công nghiệp hàng đầu. Mức độ có khác nhau, tất cả họ đều phụ thuộc vào điểm nghẹt thở quá sức hẹp nối Ấn Độ Dương với Tây Thái Bình Dương - Vịnh Bengal với Biển Đông - để cho dầu và khí đốt Trung Đông vận chuyển bằng đường biển có thể quá cảnh một cách an toàn qua các khu đô thị của tầng lớp trung lưu giàu lên nhanh chóng của Đông Á, khu vực rất quan trọng đối với nền kinh tế thế giới.

Biển Đông sẽ là chiến lược ưu tiên để xác định tương lai vai trò lãnh đạo của Mỹ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Địa chính trị là lực lượng đối kháng với toàn cầu hóa, phân chia thế giới chứ không phải là đoàn kết. Biển Đông là nơi sự gia tăng quân sự Trung Quốc đang ngày càng thách thức tính ưu việt của hải quân Mỹ - một xu hướng, nếu từ bỏ quỹ đạo hiện nay, có thể phá vỡ sự cân bằng quyền lực đã tồn tại từ cuối Chiến tranh thế giới thứ II và đe dọa thông tin liên lạc tuyến biển (SLOCs). Là quốc gia bảo lãnh chủ yếu tự do hàng hải của toàn cầu, Hoa Kỳ có một quan tâm sâu sắc và trường cửu trong việc bảo đảm rằng SLOCs vẫn còn để mở cho tất cả mọi người, không chỉ đối với thương mại mà còn cho hoạt động quân sự hòa bình, chẳng hạn như can thiệp nhân đạo và phòng vệ bờ biển.

Hoa Kỳ có thể bảo vệ tốt nhất một nền hoà bình, trật tự khu vực thịnh vượng bằng cách gìn giữ quyền xử dụng SLOCs quan trọng. Sự bất lực của Hoa Kỳ trong việc tạo nên thẩm quyền đầy đủ ở Biển Đông sẽ có thể làm thay đổi những tính toán an ninh cho tất cả các quốc gia trong khu vực. Nếu như lực lượng Mỹ không chỉ đánh mất khả năng gây rắc rối các kế hoạch của đối phương mà còn trở nên ngày càng dễ bị tổn thương trước việc Trung Quốc liên tục hiện đại hóa quân sự, thì các quốc gia khác trong khu vực sẽ có vẻ như ít có khả năng lựa chọn một đồng minh có thể thắng một Trung Quốc mạnh mẽ. Khi Trung Quốc tiếp tục gia tăng, ít nhất là tương đối, nếu không phải là tuyệt đối, Hoa Kỳ được nhận thấy là suy giảm. Có thể cho rằng, không một số liệu sụt giảm tương đối nào gây lo ngại nhiều hơn, là sự thu nhỏ thêm nửa quyền lực hàng hải của Mỹ có thể chấp nhận được .

Trong khi đó, Hải quân Hoa Kỳ thời Reagan đã tự hào có gần 600 tàu chiến, con số này hiện đứng ở mức 284. Mặc dù mục tiêu của Hải quân Mỹ là mở rộng đến 313 tàu chiến, ngân sách quốc phòng hiện tại, cùng với sự sản xuất chậm trễ và vượt quá chi phí, không ủng hộ được mục tiêu đó. Hơn nữa, với việc cắt giảm ngân sách sắp diễn ra, cũng như ngừng hoạt động số lượng lớn các tàu chiến trong thập kỷ tới vì tuổi tác, Hoa Kỳ đối mặt với viển cảnh một Hải quân có 250 tàu, hoặc ít hơn .

Tất nhiên, số lượng tàu chỉ là một phương diện của sức mạnh hải quân. Các phạm vi khác bao gồm tổng trọng tải, vũ khí và khả năng trên tàu, mức độ đào tạo thuyền viên và phối hợp khả năng các dịch vụ quân sự khác nhau, và Hoa Kỳ sẽ ít nguy hiểm hơn trong việc nhượng lại sức mạnh vượt trội trong những khu vực này ngay bất cứ lúc nào . Hơn nữa, có câu chuyện tại Washington rằng xây dựng một liên minh lớn lực lượng hải quân của tất cả các quốc gia yêu chuộng tự do để Hoa Kỳ giảm nhẹ gánh nặng hàng hải khi mất dần đi quyền lực của nó. Tuy nhiên, vấn đề ở những con số. Một con tàu không thể ở hai nơi cùng một lúc và sự hiện diện là một thước đo sức mạnh hải quân. Tầm với của Mỹ cần phù hợp với lợi ích của nó đang rải ngổn ngang trên toàn cầu. Trong việc tính đến các chi nhánh của một hải quân nhỏ hơn, một vài nơi cần quan tâm nhiều hơn từ các nhà hoạch định của Lầu Năm Góc hơn là ở Biển Đông, vùng biển kết nối kho năng lượng của Trung Đông với dân số ngày càng thịnh vượng của Đông Á.

Chúng tôi lập luận rằng sự thống trị của quân đội Mỹ ở Biển Đông sẽ lùi xa trong điều kiện tương đối như các quốc gia khác, chủ yếu là Trung Quốc, tận dụng hải quân và lực lượng không quân của họ và tích hợp tốt hơn tên lửa đạn đạo chống hạm, máy bay thế hệ thứ năm, tàu ngầm và các đội chiến đấu trên biển (bao gồm các tàu sân bay) và không gian mạng và các hệ thống vũ trụ. Đây là một hiện tượng lịch sử tự nhiên. Tuy nhiên, chủ yếu là sự cân bằng được điều chỉnh của các lực lượng nổi lên từ tình trạng rất năng động này, có thể bảo vệ thương mại hàng hải thông qua SLOCs tự do và an toàn.

Mục đích là hợp tác, nhưng hợp tác có thể được nâng cao tốt nhất thông qua sức mạnh. Ngoại giao, tham gia kinh tế sẽ làm việc tốt hơn khi được hỗ trợ bởi một tư thế quân sự đáng tin cậy. Điều này sẽ yêu cầu duy trì tính ưu việt thông qua cả sức mạnh và hợp tác khu vực rộng hơn của Mỹ, một khái niệm có thể được gọi là " hợp tác ưu việt.". Đề tài nổi bật này khuếch đại rủi ro đối với Hoa Kỳ và nhu cầu của nó để theo đuổi cả hai vấn đề hợp tác và tính ưu việt. Sau đó nó kiểm tra đặc điểm chiến lược lập lờ của Trung Quốc đối với Biển Đông, trước khi đào sâu vào một số lãnh vực an ninh hàng hải , từ hoạt động đến quy tắc. Cuối cùng, nó kết thúc với năm khuyến nghị chung hướng dẫn hoạch định chính sách Mỹ. Để chuẩn bị đề tài hàng đầu này , chúng tôi đi du lịch khắp châu Á và một phần Biển Đông, phỏng vấn các cấp trưởng ngành quốc phòng từ khắp khu vực, gặp gỡ với các quan chức khác và các chuyên gia và đã được chỉ dẩn tường tận bởi các chuyên gia ở Bắc Kinh, Thượng Hải, Singapore, Hà Nội, Washington, Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ ở Honolulu và các nơi khác. Chúng tôi cũng đã tiến hành hội thảo chuyên gia, tài liệu được uỷ quyền cho tập san này và tham khảo các báo cáo được công bố bởi các think tank trong khắp Hoa Kỳ và Đông Á.



III. QUYỀN LỢI CỦA MỸ TẠI BIỂN ĐÔNG.

Tầm quan trọng địa chiến lược của Biển Đông đối với Hoa Kỳ là rất khó để phóng đại. Biển Đông là trung tâm nhân khẩu học của nền kinh tế toàn cầu thế kỷ 21, nơi có 1,5 tỷ dân của Trung Quốc, gần 600 triệu người Đông Nam Á và 1,3 tỷ cư dân của tiểu lục địa Ấn Độ hoán chuyển các nguồn lực quan trọng , trao đổi hàng hoá trong khu vực và khắp nơi trên thế giới. Hơn một nửa tá quốc gia- lần lượt ngược chiều kim đồng chung quanh Biển : Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Malaysia, Singapore, Indonesia, Brunei và Philippines - có tuyên bố lãnh thổ cồng chéo trên một đáy biển có lượng dầu dự trữ 7000000000 thùng, cũng như một ước tính chừng 900 nghìn tỷ foot khối khí đốt tự nhiên.

Nếu tính toán của Trung Quốc là chính xác, Biển Đông cuối cùng sẽ mang lại 130 tỷ thùng dầu hoặc nhiều hơn nữa (mặc dù có một số nghi ngờ về những ước tính này, như Will Rogers thảo luận ở những nơi khác trong tập san này). Điều này có nghĩa là Biển Đông chứa dầu nhiều hơn bất kỳ khu vực nào trên thế giới, ngoại trừ Ả-rập Xê-út - một số nhà quan sát hàng đầu Trung Quốc gọi Biển Đông là " Vịnh Ba Tư thứ hai. " . Nếu thực sự có nhiều dầu như vậy ở biển Đông - và nếu Trung Quốc có thể kiểm soát nó - sau đó Trung Quốc có thể giảm bớt sự phụ thuộc vào eo biển hẹp và dễ bị tổn thương Malacca (cũng như các thay thế Sunda và Lombok Straits) thông qua việc nó nhập khẩu quá nhiều năng lượng từ Trung Đông. Tổng Công ty Dầu khí Ngoài khơi Quốc gia Trung Quốc đã đầu tư 20 tỷ $ trong niềm tin rằng những lượng dầu thực sự tồn tại ở Biển Đông.

Sẽ dễ dàng hơn để tránh xung đột mở ở Biển Đông hơn là nó sẽ tránh được những cạnh tranh phát triển . Trên bề mặt - trong bối cảnh sự lên xuống và lưu lượng các tuyên bố xung đột lãnh thổ, tranh chấp pháp lý và căng thẳng quân sự, bùng phát gần đây trong xử sự ngoaị giao về việc ai sở hữu những gì ở Biển Đông không xuất hiện đủ mạnh để nâng cao nguy cơ xung đột lớn giữa các quốc gia trong thời điểm gần. Thật vậy, sự giàu có của các nguồn năng lượng dưới đáy biển và sự phụ thuộc các chia sẻ trên tự do hàng hải đang thúc đẩy kêu gọi thành lập các cơ chế đa phương mới để thúc đẩy sự ổn định và thương mại. Tuy nhiên, Biển Đông cũng trở thành tâm điểm của những gì dường như là một địa chính trị đấu tranh lâu dài trong đó quyền lực chính trị cổ điển và dân tộc chủ nghĩa đang được tăng cường cùng với sự nổi lên của Trung Quốc.


Liệu Hoa Kỳ có duy trì nổi một khả năng kiểm soát được vùng biển đáng tin cậy cho thông tin liên lạc tuyến biển SLOCs ở Nam Trung Quốc hoặc khả năng chống truy cập của Trung Quốc và sự cự tuyệt của khu vực sẽ cơ bản vô hiệu hóa khả năng kiểm soát đó, đấy là mối đe dọa và do đó làm thay đổi những giả định chiến lược xuyên suốt khu vực Ấn Độ dương -Thái Bình
Dương ?


Có một cuộc tranh cải địa chiến lược không thể tránh được tại các hoạt động trong vùng biển Đông, và rằng cuộc tranh cải có thể đun nóng vấn đề này : Hoa Kỳ có duy trì nổi khả năng kiểm soát vùng biển đáng tin cậy cho thông tin liên lạc tuyến biển SLOCs ở Nam Trung Quốc hoặc khả năng chống truy cập của Trung Quốc và khu vực cự tuyệt sẽ cơ bản vô hiệu hóa khả năng kiểm soát đó, đấy là mối đe dọa và do đó làm thay đổi những giả định chiến lược xuyên suốt khu vực Ấn Độ dương - Thái Bình Dương ?

Trong khi các nước khác trong khu vực duy trì các tuyên bố lãnh thổ rỏ ràng dựa trên bờ biển của họ, Trung Quốc tuyên bố lãnh thổ ở ngay giữa Biển cả mênh mông.. Trong tương lai không-quá-xa, việc nổi lên lại của Trung Quốc và khả năng đồng thời của nó không chỉ nhấn mạnh những yêu sách này mà còn đánh cược chúng với thực lực quân đội, có thể gợi lên câu hỏi về độ tin cậy sức mạnh quân sự của Mỹ và ưu thế khu vực của Mỹ qua nhiều thập kỷ : ưu thế đã ngăn tranh chấp khu vực leo thang thành chiến tranh.

Bằng cách này, vùng biển Đông đại diện cho việc hành xử chung toàn cầu rộng lớn hơn trong mô hình thu nhỏ - không chỉ trong hàng hải và kích thước bầu trời mà còn trong lĩnh vực quan trọng của không gian ảo và vũ trụ..Ở Biển Đông, tất cả các lĩnh vực này có khả năng bị đe dọa bởi nỗ lực của Trung Quốc, thông qua mua bán và triển khai quân sự, từ chối truy cập của hải quân Mỹ. Đây là một trong những lý do tại sao 16 trong 18 quốc gia tại Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á Tháng 11 năm 2011 nhấn mạnh tầm quan trọng của an ninh hàng hải, hầu hết đều ủng hộ sự cần thiết các cơ chế đa phương để giải quyết các tuyên bố khác nhau trong biển Đông.

Trong những thập kỷ tới, thách thức đối với Hoa Kỳ là làm thế nào để bảo quản các định mức lịch sử - tự do hàng hải trên tất cả các thứ khác - đồng thời thích ứng với sức mạnh và hoạt động ngày càng tăng của các nhân tố trong khu vực. Duy trì hàng hoá công cộng toàn cầu gắn với tự do hàng hải sẽ yêu cầu tiếp tục tính ưu việt của Mỹ, đặc biệt là tính ưu việt của hải quân. Đồng thời, thích ứng và hợp tác ngày càng tăng sẽ không thể thiếu . Vì vậy, Hoa Kỳ phải hợp tác, nhưng từ một vị trí của sức mạnh.

Mặc dù nó có vẻ là nghịch lý, sự hợp tác từ một thế mạnh là một cách để thúc đẩy ngoại giao khu vực và hội nhập kinh tế trong khi bảo vệ chung sự cân bằng quyền lực khi Trung Quốc nổi lên. Cách tiếp cận này thì không trái với lợi ích của Trung Quốc:

Trong thực tế, không một quốc gia châu Á nào được hưởng lợi từ hệ thống Mỹ lãnh đạo này nhiều như Trung Quốc. Tuy nhiên, do hiện trạng không bền vững vô thời hạn, mục đích của hợp tác ưu việt là xây dựng một khuôn khổ đa phương rộng lớn hơn cho sự thay đổi được ổn định, giữ gìn và bảo tồn các quy tắc đường lối tốt đẹp cho trật tự trên biển. Kinh tế và lợi thế quân sự nổi lên của Trung Quốc đe dọa sẽ mở ra một cơn bão thay đổi trong khu vực Biển Đông. Vì thế, rất là quan trọng để duy trì các yếu tố chính của hiện trạng : tự do thương mại, SLOCs an toàn và bảo mật, và độc lập thuần túy - tự do hay đe dọa - cho tất cả các quốc gia duyên hải trong một luật lệ dựa trên trật tự quốc tế.

Khi sử dụng ở đây, tính ưu việt không có nghĩa là sự thống trị: Nó có nghĩa rằng Hoa Kỳ vẫn giữ được vai trò của nó như là một cường quốc khu vực để hướng dẩn các đồng minh và đối tác của mình làm nhiều hơn trên danh nghĩa của chính họ. Bằng cách này, cán cân quyền lực có thể được duy trì, thậm chí là giảm gánh nặng cho Hoa Kỳ . Điều quan trọng, như Tổng Thống Obama đã nhấn mạnh trong chuyến viếng thăm khu vực tháng mười một 2011, là tất cả các quốc gia đều cùng luật chơi như nhau. Thoả thuận an ninh đa phương sẽ một phần giúp đỡ kiểm tra các tham vọng quyền lực cá nhân và do đó cho phép các vấn đề ngoại giao và thương mại vượt qua những cạnh tranh quân sự công khai. Gây rắc rối cho vấn đề này là cuộc chiến kiểm soát không gian địa lý. Tranh chấp lãnh thổ vẩn dai dẳng trên những mảnh đất màu mở ở biển Đông, cái nơi mà mặc dù ngập nước trong thời gian thủy triều cao, có thể được bao quanh bởi những trầm tích năng lượng khổng lồ. Được biết, Brunei tuyên bố một rạn san hô phía nam của Quần đảo Trường Sa. Malaysia tuyên bố ba hòn đảo trong Trường Sa. Philippines tuyên bố tám hòn đảo ở Trường Sa và một phần quan trọng của Biển Đông. Việt Nam, Đài Loan và Trung Quốc, mỗi quốc gia yêu sách tất cả Biển Đông, cũng như tất cả nhóm đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Do những yêu sách này rất phức tạp gần như là nan giải, Hoa Kỳ đã tìm cách vận động khắp khu vực một cơ cấu tổ chức đa phương chung, xây dựng trên khuôn khổ các thoả thuận song phương mà hiện nay xác định các mối quan hệ của Washington với khu vực. Hoa Kỳ đang cùng làm việc với những quốc gia khác để có thể giữ tốt nhất Trung Quốc ở cùng các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế, nếu không thực sự thay đổi được hành vi của nó bằng bất kỳ biện pháp cơ bản nào. Nhưng sẽ dai dẳng, nỗ lực lâu dài.

Mặc dù gia tăng sự chú ý của hội nghị thượng đỉnh các cấp tập trung vào châu Á và Biển Đông, nhiều chiến lược trọng tâm của Washington vẫn còn ở tại Trung Đông, vẫn còn có thể thay đổi đột ngột bất chấp một thập kỷ chiến tranh và xây dựng nhà nước. Trong mùa hè năm 2010, sau lời phát biểu gay gắt tung ra hàng loạt giữa Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Hillary Rodham Clinton và Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Yang Jeichi tại Diễn đàn khu vực ASEAN 9 tại Hà Nội, một chính khách lổi lạc Mỹ đã truy vấn bạn đồng nghiệp ở Bộ ngoại giao Hoa Kỳ về lý do tại sao Hoa Kỳ đã đối đầu với Trung Quốc và nhấn mạnh một cơ chế đa phương để ngăn chặn xung đột trong Biển Đông. Đối với chính khách Mỹ này, ít nhất, Biển Đông đã không giữ giá trị địa chính trị rỏ ràng đối với Hoa Kỳ.

Hoa Kỳ phải tái cân bằng việc rút khỏi Trung Đông đầy xung đột và hướng tới khu vực châu Á-Thái Bình Dương, trung tâm của nền kinh tế thế giới. SLOCs của Biển Đông có mối liên hệ toàn cầu hóa và địa chính trị. Thực tế vùng biển Đông ít rỏ ràng có thể là một chiến trường quan trọng cho một sự chuyển tiếp quyền lực toàn cầu. Nó là nơi mà một sự gia tăng mục tiêu tìm kiếm thế lực của Trung Quốc sẽ đặt ra vấn đề một cách sâu sắc nhất về tình trạng siêu cường của Mỹ trong khu vực Đông Á. . Lợi ích của Mỹ chắc chắn sẽ bị truy vấn.. Vấn đề là liệu Trung Quốc và Ấn Độ sẽ có thể cùng nhau trổi dậy một cách hòa bình hay không, sẽ được xác định bởi việc sức mạnh hải quân của họ được sử dụng ở hai bên của Eo biển Malacca như thế nào - trong Biển Đông và vịnh Bengal. Sự cân bằng nổi lên của quyền lực giữa một Trung Quốc đang lên và một Hoa Kỳ đang xuống dốc tương đối có thể được thử nghiệm nghiêm trọng trong Biển Đông, khu vực bị giới hạn bởi Trung Quốc, phía Bắc, vùng biển có nhiều đảo Đông Nam Á ở phía nam và lục địa Đông Nam Á (Việt Nam, gọi là biển Đông) về phía tây.

Về phương diện địa lý, thương mại được xác định bởi vị trí của tài nguyên thiên nhiên và các nút dân số và cả hai biện minh cho vai trò chủ chốt về địa chính trị và địa kinh tế của Biển Đông.

Các quan chức Mỹ đã thảo luận sự cần thiết cho một sự thay đổi chiến lược đối với châu Á trong một thập kỷ, trở lại năm 2001, xét duyệt quốc phòng 4 năm một lần. Chính quyền Obama gần đây đã nói rõ một chiến lược lớn mà sẽ cố gắng thực hiện điểm mấu chốt này sự tiến triển hợp lý của chính sách an ninh quốc gia Hoa Kỳ thuộc cả hai đảng. Tuy nhiên, Washington không giả định rằng Trung Quốc sẽ tìm cách tạo điều kiện thuận lợi cho một trục Hoa Kỳ. Nhiều điều có thể phụ thuộc vào việc liệu Trung Quốc xem chiều sâu của tư thế của Mỹ ở châu Á như một sự thay đổi chủ yếu là khoa trương hay là một sự thay đổi chiến lược tiềm năng. Trong cả hai trường hợp, Hoa Kỳ phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng. Mặc dù liên minh Mỹ với Hàn Quốc và Nhật Bản đang mạnh mẽ và có khả năng vẫn như vậy - di sản của những cuộc chiến tranh giữa thế kỷ 20 - vị trí của Mỹ ở khu vực Biển Đông không neo đậu vững chắc bởi lịch sử, về cả hai mặt tư thế lực lượng cùng với khía cạnh rõ ràng, các mục tiêu chung.

( còn tiếp )


1    2    3    4    5
------------------------------------|||-------------------------------------