Thách thức của Trung Quốc. Các lựa chọn Quân sự, Kinh tế và Năng lượngđang Đối mặt với Liên minh Mỹ-Nhật.(Phần I)

Không có lẻ rằng có thể để cho Hoa Kỳ một mình đối phó với Trung Quốc, do đó, vai trò tương lai của Nhật Bản sẽ quan trọng và lớn hơn so với nó từng có từ trước đến nay.




By Patrick M. Cronin, Paul S. Giarra, Zachary M. Hosford and Daniel Katz. 27/04/2012.
Theo CNAS

 Trần H Sa  Lược dịch.

I. Tóm tắt .

Liên minh Mỹ-Nhật là nền tảng của hòa bình và thịnh vượng ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Nếu nó vẫn còn giử được như vậy, các đồng minh (Hoa Kỳ và Nhật Bản) phải giải quyết một loạt các vấn đề khó khăn liên quan đến quốc phòng, cạnh tranh kinh tế và an ninh năng lượng. Sự nổi lên của Trung Quốc được liên kết gắn bó chặt chẽ với mỗi vấn đề này, tuy là khả năng của Hoa Kỳ và Nhật Bản giải quyết những thách thức kinh tế và năng lượng nội bộ của họ. Thành công của các đồng minh sẽ ảnh hưởng đến sức mạnh và sự thịnh vượng của mỗi quốc gia và độ bền của chính bản thân liên minh.

Mặc dù các đồng minh tiếp tục chia sẻ một lọat các lợi ích và giá trị quan trọng, các vết nứt tiềm tàng đang nổi lên trong liên minh. Đối với an ninh, Hoa Kỳ và Nhật Bản có thể có khả năng không đồng ý về việc làm thế nào để đối phó với tình trạng hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc (bao gồm cả phát triển khả năng chống tiếp cận và khắc chế khu vực của nó), tính bền vững của các lực lượng Mỹ có cơ sở tại Nhật Bản và khả năng của mỗi nước thực hiện kế hoạch quốc phòng hiện tại của họ . Đồng thời, Hoa Kỳ và Nhật Bản cần một cơ chế để thúc đẩy thi hành các quyết định có hiệu quả khi họ thực hiện sự lựa chọn về cấu trúc lực lượng, duy trì chia xẻ gánh nặng một cách công bằng và hướng đến các căn cứ, và tích hợp các công nghệ mới. Cả hai nước sẽ yêu cầu lãnh đạo chính trị kiên quyết và các nền kinh tế lành mạnh để hỗ trợ kế hoạch quốc phòng hiện tại của họ.

Về kinh tế, bất đồng giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản ở trên việc, làm thế nào để đạt được và duy trì tỷ lệ tăng trưởng, tham gia vào những quyền lực mới nổi và xây dựng một chế độ kinh doanh khu vực thống nhất -- mà có thể làm xói mòn khả năng của liên minh -- để định hình tương lai của khu vực. Cả hai nước cần những chính sách ũng hộ tăng trưởng và cải cách tài chính cơ bản, một cách tiếp cận phối hợp để tích hợp một Trung Quốc giàu có vào trong trật tự kinh tế mở toàn cầu và khu vực, và thúc đẩy đúng đắn đối với thương mại tự do song phương nhiều hơn và một chế độ kinh doanh khu vực toàn diện.

Mặc dù vấn đề năng lượng đã không xuất hiện nổi bật trong quan hệ Mỹ-Nhật, một sự thất bại để phát triển một chiến lược năng lượng phối hợp có thể ngày càng gây căng thẳng cho cả hai đồng minh và có thể cho chính bản thân liên minh. Mỗi quốc gia đối mặt với những thách thức về vấn đề làm thế nào để bảo đảm đủ, các nguồn cung cấp năng lượng ổn định trong thị truờng năng lượng toàn cầu, và mỗi nước sẽ bị ảnh hưởng bởi cách Trung Quốc và các nền kinh tế mới nổi khác gặt hái tiếp cận năng lượng trong những năm tới. Ngoài ra để khai thác các nguồn nhiên liệu hóa thạch mới và những lựa chọn năng lượng sạch thay thế, Hoa Kỳ và Nhật Bản phải quyết định vai trò của điện hạt nhân.

Nếu nhân dân Mỹ và Nhật Bản muốn duy trì mãi một trật tự khu vực và thế giới theo quy định với các giá trị dân chủ và thị trường tự do, họ phải duy trì một liên minh mạnh mẽ tốt đẹp trong tương lai. Cả hai quốc gia chia sẻ mục tiêu bảo tồn và thích ứng với một hệ thống mở, dựa trên luật lệ trong khi đồng thời cung cấp khuyến khích đối với các quyền lực đang trổi dậy chẳng hạn như Trung Quốc để trở thành các bên liên quan có trách nhiệm trong hệ thống đó.

Báo cáo này phân tích những thách thức nghiêm trọng mà Liên minh Mỹ-Nhật Bản sẽ phải đối đầu với từ nay đến năm 2025 và thảo luận về làm thế nào nó có thể giữ lại ấn tượng sâu sắc và ảnh hưởng không thể thiếu của nó. Dựa trên một loạt các hội thảo và phỏng vấn liên quan đến hàng chục chuyên gia nổi tiếng Nhật Bản và Mỹ và các quan chức, báo cáo này cung cấp những khuyến cáo chính sách cụ thể để giúp hai quốc gia xây dựng một liên minh thậm chí mạnh mẽ hơn trong thập kỷ tới. Các hội thảo được xây dựng chung quanh một khuôn khổ khái niệm về sức mạnh ba chiều : sức mạnh quân sự, sức mạnh kinh tế và sức mạnh xuyên quốc gia (trong đó, với mục đích của nghiên cứu này, tập trung trên an ninh năng lượng). Mỗi hội thảo mang lại một thực đơn phong phú các ý tưởng và sự đa dạng của các quan điểm. Báo cáo này tập hợp các câu hỏi chính mà các chuyên gia nhấn mạnh, cũng như cách Hoa Kỳ và Nhật Bản nên bắt đầu để giải quyết những câu hỏi đó. Các chuyên gia tựu trung đồng ý rằng các cuộc thảo luận về liên minh này đã quá tập trung vào những thách thức ngay lập tức, mà không có đủ suy nghĩ về các lựa chọn khó khăn nhiều hơn qua đó ảnh hưởng đến chính sách lâu dài. Cũng có một sự đồng thuận rộng rãi rằng một liên minh hồi sinh sẽ tạo lợi ích cho cả Hoa Kỳ và Nhật Bản và cũng cố sự ổn định và thịnh vượng của toàn bộ khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

II. An ninh và Liên minh Mỹ-Nhật.

Liên minh an ninh Mỹ-Nhật Bản bao gồm cả hai phạm vi sức mạnh cứng và quyền lực mềm. Nó hiếm khi được thử nghiệm nhưng có hiệu nghiệm về mặt quân sự. Sức mạnh quân sự kết hợp của các đồng minh tiếp tục ngăn chặn các mối đe dọa khu vực và duy trì sự ổn định. Hơn nữa, các lực lượng quân sự có tổ chức tốt và được trang bị một cách thích hợp của các đồng minh đang hửu ích trong hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thiên tai và các nhiệm vụ gìn giữ hòa bình, các hoạt động có thể nói lên những thiện chí và xây dựng lòng tin giữa các quốc gia.

Một sự phân chia công việc lâu dài và rõ ràng đã là một tính năng rõ rệt của hiệp ước an ninh, với Hoa Kỳ tiến hành các nhiệm vụ tấn công và những hoạt động cho an ninh khu vực và Nhật Bản chỉ tập trung bảo vệ lãnh thổ của mình. Tuy nhiên, những điều này đã trở thành vai trò độc quyền theo thời gian, làm cho liên minh kém hơn so với tổng các bộ phận của nó. Các đồng minh có thể duy trì tốt hơn ảnh hưởng của họ trong tương lai bằng cách tập trung ít hơn vào phân công trách nhiệm và nhiều hơn vào khả năng kết hợp và hội nhập.


Căn cứ Futenma tại Okinawa (ảnh: Internet)


Kế hoạch cắt giảm ngân sách quốc phòng Mỹ khoảng 50 tỷ USD một năm trong thập kỷ tới (tương đương với việc loại bỏ tổng số ngân sách quốc phòng hàng năm hiện nay của Nhật Bản) đang tạo ra mối lo ngại ở Nhật và các nơi khác trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Nếu Quốc hội bắt buộc quá trình ngân sách được biết là cô lập trong thời gian nhất định, việc cắt giảm thậm chí sẽ sâu hơn và có thể tạo nên câu hỏi về khả năng của Mỹ duy trì cam kết của mình đối với an ninh của các đồng minh ở châu Á. Đồng thời, không phải hiển nhiên mà Nhật Bản sẽ đóng một vai trò an ninh lớn hơn trong tương lai, cũng không phải là một vai trò chắc chắn mong muốn lớn như vậy. Nhật Bản có một lịch sử xung đột với nhiều nước láng giềng, bao gồm Trung Quốc, quốc gia có thể phản ứng tiêu cực với khả năng quân sự tăng cường ở Nhật Bản. Hoa Kỳ có thể đưa lịch sử lùi vào sau, nhưng những người khác đã không làm như vậy -- bao gồm nhiều người ở Nhật Bản, như là kết quả của kinh nghiệm trước chiến tranh của Nhật Bản , vẫn còn không thoải mái với lực lượng quân sự.

Những lo ngại này nêu bật những cơ hội bị đánh mất để củng cố liên minh, bao gồm cả chia xẻ trách nhiệm, cách thức và phương tiện quân sự của nó. Những chia xẻ trách nhiệm trở thành phức tạp hơn kể từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh; nhìn về phía trước, liên minh phải đứng lại với nhau hoặc sụp đổ trước việc làm thế nào để đối phó với Trung Quốc. Những cách thức trung tâm của liên minh quân sự ở trên vấn đề các căn cứ và liệu hai đồng minh có thể tiếp tục chia xẻ gánh nặng một cách công bằng. Vấn đề đó còn phức tạp hơn bởi những thay đổi trong chiến tranh và công nghệ quân sự mà hiện trạng là riêng biệt, chứ không phải thống nhất, ở quân đội hai nước. Tokyo từ lâu từ chối chấp nhận các cơ hội hội nhập có nghĩa là liên minh không có được khả năng như nó có thể có. Một ví dụ của điều này liên quan đến tình huống chiến đấu của không quân hiện đại. Đối với bất kỳ chiến dịch hoạt động nào của không quân vượt quá phạm vi tầm nhìn, máy bay Hoa Kỳ được liên kết bởi mạng lưới kỹ thuật tinh xảo để nâng cao khả năng chiến đấu trên chiến trận không gian, và tích hợp lệnh chỉ huy và sự kiểm soát. Lực lượng Phòng vệ Không quân Nhật Bản không có khả năng sử dụng công nghệ này (và các nguyên tắc củng cố nó) để liên kết các nền tảng và mạng lưới hoạt động. Thật vậy, ít nhất là trong quá khứ, họ thậm chí không mong muốn làm như vậy. Cuối cùng, đối diện với một số hạn chế tài chính, nó vẫn là một câu hỏi mở, liệu các đồng minh, riêng biệt và kết hợp, có thể tập hợp các phương tiện để tiếp tục hỗ trợ phòng thủ một cách đầy đủ..

Chiến lược của Mỹ và Nhật Bản bày tỏ mối quan tâm về khả năng đang gia tăng sức mạnh của quân đội Trung Quốc (Bộ binh, Hải quân và lực lượng Không quân của Quân đội Giải phóng Nhân dân), nhưng vẫn tự tin rằng các đồng minh sẽ nắm giử lợi thế nếu họ hợp tác. Tuy nhiên, một sự thất bại tích hợp quân đội Hoa Kỳ và Nhật Bản và lực lượng phòng thủ có thể làm suy yếu khả năng ngăn chặn, khuyến khích những ép buộc chính trị chống lại liên minh và những nước khác (hỗ trợ bởi việc sử dụng lực lượng quân sự đột ngột xâm lược), làm giảm độ tin cậy sự bảo đảm an ninh của Mỹ, làm cho Nhật Bản và những nước khác thiếu khả năng hoặc thiếu sẵn sàng để chống lại ảnh hưởng của Trung Quốc, kích động các đồng minh và bạn bè tham gia vào một cuộc chạy đua vũ trang với Trung Quốc gây mất ổn định (mà có thể bao gồm các vũ khí hủy diệt hàng loạt) và tiếp tục làm suy yếu các liên minh của Mỹ ở châu Á.

Hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc

Sự phản đối sự xâm lược của Liên Xô cung cấp chất keo cho sự gắn kết Mỹ-Nhật Bản trong Chiến tranh Lạnh. Ngày nay, Trung Quốc ngày càng gia tăng tiêu điểm của liên minh. Mặc dù Trung Quốc không phải là một kẻ thù, không có thách thức quân sự tiềm tàng lớn hơn đối với liên minh. Hoa Kỳ và Nhật Bản không chỉ chia xẻ một sự quan tâm mạnh mẽ trong việc hội nhập hòa bình của một Trung Quốc đang lên mà còn là trách nhiệm rào đón chống lại một mối đe dọa tiềm năng của Trung quốc. Trung Quốc không nên là chất kết dính duy nhất cho liên minh Mỹ-Nhật Bản, nhưng khi không hiểu mục tiêu của liên minh với sự chú ý, Trung Quốc có thể làm xói mòn các liên kết giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản trong những thập kỷ tới.

Đối phó với một Trung Quốc ngày càng có khả năng -- đặc biệt 1 quyết tâm theo đuổi tích hợp công nghệ để khắc chế những nước khác tiếp cận trong cả Biển Đông Trung Quốc và Biển Nam Trung Hoa -- chạm vào những ý định cốt lõi của liên minh. Chính trị, nó làm tăng câu hỏi làm thế nào Hoa Kỳ và Nhật Bản sẽ tìm cách định hình một Trung Quốc đang lên. Quân sự, nó làm tăng câu hỏi làm thế nào để vượt qua các khả năng chống tiếp cận và khắc chế khu vực đang phát triển nhanh. Hiện tại không có sự đồng thuận giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản trên một trong hai câu hỏi đó.

Hoa Kỳ có khả năng duy trì khía cạnh quân sự hiện nay của nó, nhưng một thách thức lớn cho cả Hoa Kỳ và Nhật Bản là xác định làm thế nào để duy trì khía cạnh đó trước vấn đề tài chính khắt khe và những hạn chế chính trị. Quân đội Mỹ đang phản ứng với các thách thức kỹ thuật toàn cầu và sẳn sàng hoạt động -- bao gồm Trung Quốc -- với những khả năng đang phát triển (ví dụ, chiến tranh mạng), các khái niệm (ví dụ, Hải-Không chiến), các học thuyết (ví dụ, Khái niệm truy cập hoạt động chung) và chiến lược (ví dụ như, tái cân bằng sức mạnh của Mỹ ở Châu Á). Thậm chí nếu những sáng kiến này có ​​hiệu quả, tuy nhiên, những đóng góp của liên minh lớn hơn đối với an ninh là cần thiết.

Không có lẻ rằng có thể để cho Hoa Kỳ một mình đối phó với Trung Quốc, do đó, vai trò tương lai của Nhật Bản sẽ quan trọng và lớn hơn so với nó từng có từ trước đến nay. Nhưng cho đến nay, phản ứng của Nhật Bản đối với các sáng kiến ​​quân sự cụ thể được hiểu là tốt nhất. Để duy trì quyền tiếp cận của Mỹ và bảo vệ lợi ích của Nhật Bản khi đối mặt với những thách thức từ Bắc Kinh và đồng thời với cơ cấu kinh tế yếu kém, Hoa Kỳ và Nhật Bản sẽ hợp tác ở cấp độ chưa từng có. Sự hợp tác như vậy sẽ cần thiết bao gồm một sự hiểu biết chia xẻ về môi trường chiến lược, năng lực nội bộ để xem xét chặt chẻ những điểm khác biệt và tác động của hợp tác, và một ý nghĩa khắc phục những phân chia quan liêu. Sự hồi sinh chính trị-quân sự này của liên minh sẽ là rất cần thiết để bảo tồn một cân bằng quyền lực quân sự thuận lợi và đạt được sự ngăn chặn đáng tin cậy. Trong một số khía cạnh, điều đó đã xảy ra, và câu hỏi là làm thế nào để tối đa hóa các xu hướng.

Không kể đáp ứng có hiểu biết của Nhật Bản đối với 1 môi trường an ninh đang thay đổi nhanh chóng, Nhật Bản đang phản ứng với sự nổi lên của Trung Quốc. Như được minh họa bởi phần lớn các Nguyên tắc chỉ đạo Chương trình Phòng thủ quốc gia của nó gần đây, Nhật Bản đã từ chối học thuyết "bảo vệ tĩnh" lâu đời của nó trong thiện ý "phòng thủ năng động". Mới đây đã thành lập phòng thủ phía tây nam Đảo Ryukyu , sử dụng tích cực hơn các lực lượng quân sự và tính năng di động của lực lượng lớn hơn. Tuy nhiên, giống như Hoa Kỳ, các sáng kiến ​​an ninh của Nhật Bản bị cản trở bởi áp lực tài chính cũng như bởi sự không chắc chắn về tương lai các quyết định của Hoa Kỳ. Hơn nữa, không có khả năng rằng Nhật Bản sẽ thay đổi dứt khoát hiến pháp của nó có liên quan đến việc sử dụng vũ lực tấn công và tự vệ chung (trừ khi một cuộc khủng hoảng bắt buộc nó làm như vậy, mà vấn đề thời gian có thể là quá muộn để thích ứng với một phản ứng phù hợp với các trường hợp). Tuy nhiên, sự sẵn sàng và khả năng Nhật Bản nới lỏng lệnh cấm xuất khẩu vũ khí mà không có một cuộc khủng hoảng xảy ra, đang đề xuất một xu hướng dần dần hướng tới tiêu chuẩn hóa.

Các kỳ vọng truyền thống mà kinh tế phụ thuộc giữa Nhật Bản và Trung Quốc sẽ cung cấp cho Tokyo đủ tiến gần tới Bắc Kinh để ngăn chặn đối đầu quân sự đã được nêu thành câu hỏi trong mùa thu năm 2010, khi Trung Quốc dựa vào sự đa dạng của các chiến thuật cưỡng chế -- bao gồm cả thủ đoạn ngoại giao và các mối đe dọa ngầm giữ lại kim loại đất hiếm để gây áp lực với Nhật Bản về việc bắt giữ một thuyền trưởng tàu đánh cá trong vùng biển tranh chấp của Biển Đông Trung quốc. Nhiều người ở Nhật Bản đã bị hoảng sợ bởi việc xử lý sự cố của Trung Quốc.

Chia sẻ gánh nặng trong tương lai.

Một tập câu hỏi thứ hai liên quan đến sức mạnh quân sự của liên minh tập trung vào những đường lối của liên minh: quản lý liên minh, chia sẻ gánh nặng và chiều sâu sự tin tưởng trong hợp tác. Phải chăng gánh nặng sẽ được nhận thấy là phải phân phối công bằng ? các lực lượng vũ trang của các đồng minh trở nên tích hợp nhiều hơn hay vẫn còn phần lớn, hoặc thậm chí ngày càng tăng, tính riêng biệt ? Những gì cơ chế sẽ là đối với việc chia xẻ gánh nặng trong khoảng thời gian mà khi ấy mục tiêu của liên minh là mơ hồ và các nguồn lực của nó thì khan hiếm?

Hoa Kỳ và Nhật Bản có thõa thuận mang tính lịch sử lâu dài trong quá khứ dính chặt vào trong phép ẩn dụ về một tàu sân bay không thể chìm được. Năm 1951, khi đó Thủ tướng Shigeru Yoshida đấu tranh cho ý tưởng cung cấp cáccơ sở an toàn để đổi lại việc Hoa Kỳ hỗ trợ phục hồi kinh tế và bảo vệ lãnh thổ Nhật Bản. Điều này được gọi là Học thuyết Yoshida đã dẫn đầu cho cơ sở liên minh thời chiến tranh lạnh. Tuy nhiên, nhiều người dân ở Nhật Bản đã dần dà trở nên mệt mỏi với việc "thông cảm" ngân sách bởi người nộp thuế phải trả tiền cho việc duy trì các căn cứ Mỹ ở Nhật Bản, và tranh chấp về các nguồn lực đang lôi kéo sự chú ý đến chi phí của liên minh chứ không phải là giá trị của nó. Cũng có các câu hỏi về Nhật Bản và Hoa Kỳ mỗi bên sẽ trả bao nhiêu tiền để giữ lại các căn cứ và di chuyển một số lực lượng đến Guam và nơi khác, bao gồm cả việc luân phiên một số thủy quân lục chiến qua Darwin, Australia.

Tích hợp các cơ sở cung cấp một cơ hội vàng cho việc tối đa hóa sử dụng các nguồn lực trong liên minh. Càng ngày, các lực lượng Mỹ có trụ sở tại Nhật Bản (và có lẻ ở nơi khác, chẳng hạn như Guam) có thể được sống cùng với lực lượng phòng vệ (SDF), hoạt động bên nhau và cung cấp cho nền kinh tế sức mạnh và tính phục hồi nhanh. Khuyến khích phối hợp giữa các dịch vụ vũ trang Nhật Bản -- và ở trong số các dịch vụ vũ trang Hoa Kỳ -- sẽ cung cấp một bàn đạp cho sự hội nhập Mỹ-Nhật. Hội nhập như vậy là một thay đổi trò chơi tiềm năng cho liên minh, cung cấp lợi ích lẫn nhau và tiềm năng cho các hoạt động kết hợp, cũng như thay thế căn cứ Mỹ ở Okinawa (nơi phần lớn các lực lượng Hoa Kỳ đang tập trung). Tuy nhiên, tầm quan trọng chiến lược của Okinawa có thể ngày càng tăng, và quản lý liên minh cẩn thận là cần thiết để bảo vệ quyền tiếp cận các căn cứ ở đó trong khi cố gắng thích nghi các điều kiện hợp lý với dân địa phương.

Các nguồn lực liên minh.

Bên ngoài mục đích và đường lối của liên minh, có vấn đề phương tiện. Các câu hỏi cổ điển về chi tiêu quốc phòng là "bao nhiêu là đủ ?". Tuy nhiên, trong liên minh, các câu hỏi tập trung hơn vào "sức mạnh quân sự bao nhiêu là đủ cho mỗi quốc gia" và làm thế nào việc hội nhập liên minh có thể tăng cường sức mạnh quân sự của Nhật Bản và Hoa Kỳ. Một chuyện khác, liên quan chặt chẽ, câu hỏi cho liên minh là liệu Nhật Bản có sẽ trở thành một quyền lực quân sự có tiêu chuẩn, có khả năng sử dụng thậm chí lực lượng tấn công trong bối cảnh Phòng vệ chung. Nó chắc chắn có các bước theo hướng đó, từ các vai trò và nhiệm vụ bổ sung đến việc nới lỏng chính trị và các hạn chế của pháp luật. Tuy nhiên, những bước đó không đạt được từ sự thay đổi hiến pháp thời hậu chiến của Nhật Bản, qua đó không có khả năng xảy ra ngay bất cứ lúc nào và có thể chứng minh gây mất ổn định nhiều hơn đối với mối quan hệ của Nhật Bản với Trung Quốc và những nước khác so với sẽ ít trực tiếp lệch hướng hơn từ chính sách sau chiến tranh.


Tên lửa hành trình Tomahawk của Mỹ - Ảnh: Reuters


Nhật Bản tránh né chiến đấu. Đối với cả những lý do pháp lý và chính trị, Nhật Bản thích cung cấp cơ sở, hỗ trợ hậu cần và các khoản đóng góp tài chính trong phạm vi nhiệm vụ an ninh khu vực và toàn cầu. Tuy nhiên, lực lượng Phòng vệ (SDF) ngày càng có khả năng hoàn thành vai trò chính của nó : Phòng thủ Nhật Bản. Mặc dù có những hạn chế hiến pháp trên SDF và các hoạt động của nó, liên minh đã là cần thiết để kềm hãm lực lượng Liên Xô rất có khả năng trong thời gian Chiến tranh lạnh. SDF đóng một vai trò quan trọng tương tự trong ngày hôm nay, và Nhật Bản tiếp tục là bức tường thành của sự ổn định và an ninh ở Đông Bắc Á.

Kể từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh, Nhật Bản đã mở rộng các bước hợp lý hóa và cho phép sử dụng lực lượng, cả trong liên minh và những việc bất ngờ của quốc gia. Ngày nay, trên thực tế, hàng hải có năng lực và lực lượng không quân Nhật Bản đang mở rộng khả năng và học thuyết của mình, họ cũng đóng một vai trò ở biển Đông Trung Quốc và Biển Nam Trung Hoa và chống cướp biển ở Vịnh Aden. Nguyên tắc chỉ đạo Chương trình phòng vệ quốc gia công bố bởi Nhật Bản trong tháng 12 năm 2010 khớp nối một tầm nhìn rõ ràng cho việc định hướng tương lai của SDF ngày càng gia tăng khả năng. Ví dụ, Lực lượng Phòng vệ Mặt đất (GSDF) đã thay đổi học thuyết của nó từ một tư thế sức mạnh tĩnh đến phòng vệ chủ động hơn trong đáp trả các hoạt động quân sự của Trung Quốc chung quanh Nhật Bản và nhận thức lãnh thổ Nhật Bản có thể bị xúc phạm, GSDF gần đây cũng đã hoàn thành buổi diển tập đổ bộ "Iron Fist" hàng năm lần thứ bảy với Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ ở California. Trong khi đó, hàng không, hàng hải và Lực lượng phòng vệ mặt đất đang thảo luận một khái niệm hoạt động của Không- Hải - Bộ.

Nhật Bản đang làm nhiều hơn nữa không chỉ ở đơn phương mà còn đa phương, bao gồm tiến hành các buổi diển tập quân sự và xây dựng các mối quan hệ an ninh với các quốc gia khác. Nó đã tham gia diển tập hàng hải đa phương với Hoa Kỳ và Ấn Độ, tham gia trong việc lập kế hoạch chiến lược với Hoa Kỳ và Hàn Quốc, tham gia vào diễn tập quân sự với Hoa Kỳ và Australia, và tham gia trong các buổi diển tập ứng phó thiên tai ba bên với Hoa Kỳ và Philippines.. Đối với Nhật Bản, đây là những phát triển đáng kể. Những nỗ lực như vậy có thể giúp đỡ các đồng minh đạt được một sự cân bằng quyền lực khu vực cho dù đã giảm thiểu tương đối các nguồn lực.

Trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Nhật Bản và Hoa Kỳ sẽ có thể đòi hỏi ngân sách quốc phòng của họ thêm nửa nếu họ có thể tăng cường hợp tác. Các khía cạnh quan trọng nhất của hợp tác quân sự sẽ là sự tích hợp chỉ huy, kiểm soát và hệ thống thông tin. Tích hợp C4ISR (Command, Control, Communications, Computers, Intelligence, Surveillance and Reconnaissance = chỉ huy, kiểm soát, thông tin liên lạc, máy tính, tình báo, giám sát và trinh sát) là một điểm yếu mãn tính trong mối quan hệ đặc trưng là "riêng biệt mà không đồng đều". Những bước của Nhật Bản bảo vệ an toàn thông tin mật làm cho hội nhập như vậy dễ dàng hơn, cho phép cả hai lực lượng quốc phòng sử dụng công nghệ chia sẻ dữ liệu chiến thuật chẳng hạn như liên kết 16 ( cung cấp thông tin liên lạc an toàn, kỹ thuật số giữa các đường hàng không, hải quân và các lực lượng mặt đất), nhưng chính trị ở cấp cao cũng sẽ được yêu cầu tăng cường hợp tác.

Các khả năng đang gia tăng của Trung Quốc có thể gây xúc tác cho vai trò quân sự, nhiệm vụ và khả năng của Nhật Bản chưa từng có. Những điều này có thể bao gồm một loạt đầy đủ các khả năng cung cấp cho Nhật Bản tự do hoạt động lớn hơn chứ không phải là chỉ điền vào sự sụt giảm của Hoa Kỳ trong một số lãnh vực nhất định. Những khả năng nên bao gồm:

• Tích hợp C4ISR với Hoa Kỳ;
• Hoạt động và tình báo cấp chiến lược, giám sát và trinh sát;
• Hậu cần quốc gia, cơ sở hạ tầng và cơ sở quốc phòng và hỗ trợ;
• Hợp lý hoá việc mua lại các cơ sở quốc phòng và cơ sở công nghiệp;
• Khả năng phòng thủ chống hàng không;
• Phòng thủ tên lửa hành trình và tên lửa đạn đạo ;
• Chống tàu ngầm chiến tranh;
• Nâng cao khả năng hải quân trên và dưới mặt biển;
• Ngư lôi;
• Nhóm hộ tống chiến đấu;
• Tàu sân bay và máy bay chiến thuật trên biển;
• Khả năng tiến hành diển tập chiến đấu trên mặt đất, bao gồm các hoạt động đổ bộ.

Vai trò của Mỹ

Khu vực châu Á-Thái Bình Dương vẫn là một ưu tiên hàng đầu đối với chiến lược của Mỹ . Tuy nhiên, trong thời gian các nguồn lực suy giảm và thách thức ngày càng tăng, các nhà hoạch định chính sách Mỹ sẽ cần phải xem xét tất cả mọi thứ từ sự hiện diện của quân đội Mỹ hướng đến phát triển chung phòng thủ tên lửa đạn đạo.

Để giải quyết cả khó khăn tài chính và nhu cầu hiện diện quân sự mạnh mẽ của Mỹ ở châu Á, Hoa Kỳ và Nhật Bản nên xem xét việc chia xẻ các căn cứ và cơ sở. Bế tắc kéo dài qua sự thay thế phi trường quân sự của Thuỷ quân Lục chiến Hoa Kỳ ở Futenma chỉ là một phần của một câu đố phức tạp, và các lợi ích đa dạng ở Tokyo, Washington và Okinawa đang tăng thêm căng thẳng trong liên minh. Một thỏa thuận gần đây tách các khía cạnh khác của việc tổ chức lại các cơ sở trên đảo Okinawa (bao gồm cả việc di chuyển của hàng ngàn thủy quân lục chiến) cho đến khi một đường băng mới có thể được xây dựng tại trại Schwab ở Henoko đã tạm thời giảm bớt va chạm gây ra bởi vấn đề lâu dài của các căn cứ Mỹ. Đây là một thắng lợi ngắn hạn đối với tính thực dụng chính trị. Tuy nhiên, trong vài năm tới, các quan chức được bầu một cách dân chủ sẽ phải giải quyết các phản đối phổ biến với việc xây dựng lại các cơ sở hiện nay của Thủy Quân Lục Chiến Mỹ ở những nơi khác trên đảo Okinawa (hoặc Trại Schwab, theo kế hoạch hiện tại, hoặc Kadena, một sự thay thế thường nói). Việc tích hợp cơ sở sẽ có thể làm giảm bớt áp lực chính trị mà không ảnh hưởng đến các khả năng hoạt động.

Các đồng minh cũng nên xem xét tăng cường các khả năng hoạt động tương tác. Nhật Bản quyết định mua máy bay chiến đấu F-35 và tiếp tục tham gia phát triển phòng thủ tên lửa đạn đạo phản ánh một ưu đãi cho các hoạt động kết hợp và khả năng tương tác. Tuy nhiên, xa hơn nửa có thể và nên được thực hiện. Lực lượng NATO hành động chống lại chế độ Moammar Gadhafi ở Libya đã có thể thực hiện nhiệm vụ mặc dù thiết bị khác nhau là do bởi lý thuyết thành công và tích hợp kỹ thuật, nhưng Nhật Bản đã không thể tham gia vào một nỗ lực tương tự với Hoa Kỳ theo giải thích hiện nay của Hiến pháp Nhật Bản . Tuy nhiên, thay đổi cách giải thích, có thể xảy ra mà không có thay đổi cơ bản hiến pháp Nhật Bản. Ngoài ra, biện pháp khác đối với tăng cường kết hợp khả năng quân sự là có thể, như tăng cường khả năng tương tác là một vấn đề vượt quá sự thủ đắc và công nghệ và bao gồm chính trị và các vấn đề pháp lý. Chia xẻ cơ sở vật chất và thông tin hiệu quả là rất quan trọng.

Chính trị trong nước ở Nhật Bản sẽ tiếp tục cản trở hợp tác và ngăn cản việc xử dụng quyền phòng vệ chung của Tokyo (đôi khi thể hiện, nhưng không bao giờ thực hiện). Theo cách giải thích hiện nay, thậm chí cung cấp nhiên liệu cho máy bay quân sự Mỹ cũng có thể tỏ ra gây tranh cãi. Chính trị, quan liêu và những phiền nhiễu thực tế có thể cản trở đầu tư hợp tác quốc phòng song phương, cho dù ở Trung Đông trong suốt thập kỷ qua hoặc khắp châu Á khi các người chơi khác, chẳng hạn như Hàn Quốc và Việt Nam, ganh đua sự chú ý. Một sự kết hợp của chính phủ liên minh tương đối yếu kém, một tiến trình quan liêu thận trọng không chắc chắn có được sự hỗ trợ chính trị mạnh mẽ và nhất quán, và các sự kiện tại các khu vực khác trên thế giới đe dọa làm tiêu tan sức mạnh tiềm năng quân sự của liên minh Mỹ-Nhật Bản. Lo ngại về khiêu khích Trung Quốc cũng có xu hướng pha loãng những nỗ lực xây dựng liên minh mạnh mẽ hơn. Tuy nhiên, hơn bất kỳ mối quan tâm nào khác, áp lực ngân sách trên cả hai đồng minh là một hạn chế rỏ ràng và đáng kể .

Khuyến nghị

Hoa Kỳ và Nhật Bản nên khởi động ngay lập tức một cuộc đối thoại chiến lược cấp cao để đánh giá lại mục đích, cách thức và phương tiện của liên minh, bắt đầu với các mục tiêu cơ bản của nó, và phát triển một kế hoạch rõ ràng để thực hiện. Các cuộc đối thoại nên được dẫn dắt bởi các quan chức trợ lý Ngoại trưởng, cấp Tổng giám đốc, là những người, lần lượt, chuẩn bị các quyết định cho các quan chức cấp nội các như là một phần của quá trình "hai + hai" chính thức (với các bộ trưởng quốc phòng, nhà nước và các Thứ trưởng các Bộ quốc phòng và đối ngoại). Mặc dù các cuộc đối thoại đã thay đổi chất lượng và chiều sâu trong những năm qua, việc đang nổi lên môi trường chiến lược đòi hỏi một nỗ lực mới đạt được một sự đồng thuận trên các vấn đề quan trọng như làm thế nào để định hình môi trường quân sự khu vực và những mục đích gì để chuẩn bị cho quân sự dự phòng. Các vấn đề khó khăn, bao gồm làm thế nào để giải quyết khả năng quân sự ngày càng tăng của Trung Quốc và tranh chấp lãnh thổ trong Biển Đông Trung Quốc, nên được bao gồm trong cuộc đối thoại, để tránh sự hiểu lầm về mục đích của liên minh.

Là một phần của khuôn khổ chiến lược mới, quân đội Mỹ và SDF Nhật Bản nên bắt đầu lập kế hoạch để ngăn chặn và đánh bại khả năng tiềm tàng chống tiếp cận và khắc chế khu vực của đối phương. Điều này nên được thực hiện thông qua quy hoạch rõ ràng, các lực lượng được trang bị cần được đào tạo thường xuyên và đầy đủ, và cuối cùng có thể dẫn đến tiêu chuẩn hóa quân sự của Nhật Bản. Các cuộc thảo luận nên tập trung làm thế nào để bảo đảm quyền tự do truy cập trong cộng đồng toàn cầu, không chỉ hàng hải và lĩnh vực hàng không, mà còn trong không gian vũ trụ và trên không gian mạng. Các khái niệm hoạt động chính của Hải-Không Chiến nên được thảo luận như là một phần của một đối thoại nghiêm trọng, hửu ích. Hoa Kỳ cần quyết định vào những gì họ muốn trước khi cuộc tranh luận này có thể xảy ra trong nghiêm túc. Xây dựng các thủ tục có hiệu quả để chia xẻ thông tin mật là một yêu cầu nền tảng cho cuộc đối thoại lập kế hoạch cơ bản này. Các khái niệm hoạt động quốc phòng trên các lãnh vực tranh chấp nên được bao gồm để bảo đảm rằng cả hai đồng minh sử dụng các quy tắc tham gia như nhau. Điều này có thể xảy ra trong các cuộc thảo luận hạng trung, nhưng nó đòi hỏi hoạt động giám sát chính sách ở cấp cao.

Nhật Bản và Hoa Kỳ nên theo đuổi một chính sách lâu dài, tìm kiếm tích hợp một Trung Quốc đang trỗi dậy vào một kiến ​​trúc an ninh toàn cầu và khu vực, và thiết lập các quy tắc chung. Một đối thoại an ninh ba bên thường xuyên, cao cấp có thể phát triển các lĩnh vực chung trong tham gia qua đó có thể xây dựng sự hiểu biết và tự tin trong khi bắt đầu giải quyết các quan tâm chính. Ví dụ, các đồng minh nên đôn đốc Trung Quốc thông qua một chấp nhận, lắm khi nhiều hơn, sự giải thích của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển với tôn trọng vùng đặc quyền kinh tế và ranh giới hàng hải. Họ cũng nên khuyến khích Trung Quốc phát triển một thỏa thuận về khu vực "các sự cố-tại-các loại-biển" để quản lý sự cố và tranh chấp khi chúng xảy ra.

Là một phần của một cuộc đối thoại chiến lược, Hoa Kỳ và Nhật Bản cần soạn thảo một kế hoạch để dần dần hội nhập tất cả các căn cứ Mỹ tại Nhật Bản với những căn cứ của SDF. Các đồng minh nên thảo luận Hoa Kỳ có kế hoạch như thế nào để tái cân bằng tư thế lực lượng của nó khắp châu Á và ảnh hưởng có thể có của điều đó trong việc tái cân bằng ở Nhật Bản, cũng như ảnh hưởng của các nguyên tắc chỉ đạo mới của Nhật Bản kêu gọi nâng cao tư thế của nó trong chuỗi đảo phía tây nam. Chẳng hạn như vấn đề phân bố các lực lượng Hoa Kỳ trong tương lai xuyên suốt Nhật Bản, bao gồm Okinawa, nên là một phần xem xét, nhưng mục đích chính của hội nhập là để bảo đảm khả năng lớn hơn thông qua các hoạt động chung và kết hợp, và các tác dụng ngăn chặn kèm theo. Ngoài ra, ở nơi nào có thể, quân đội nên chiếu cố hơn nữa việc sử dụng kép dân sự-quân sự trên các căn cứ chẵng hạn như căn cứ Không quân Yokota ở thủ đô Tokyo.

Với nhau và riêng rẽ, Hoa Kỳ và Nhật Bản cần cải cách và hội nhập cái riêng tư của họ và cải cách chiến lược thủ đắc quốc phòng của liên minh , và cải cách thực tiễn, cơ sở hạ tầng. Để có thực tế, chiến lược quân sự phải là vừa phải và bền vững, tuy nhiên sự cứng nhắc của phòng thí nghiệm và tập thể đẩy cao giá cả và kéo dài thời điểm đúng lúc của việc thu hoạch kết quả. Mặc dù cạnh tranh nói chung là lành mạnh, sự thành lập quốc phòng Mỹ-Nhật Bản rất không đồng đều nhau sẽ được hưởng lợi từ sự hợp tác nhiều hơn với sự quan tâm đến sự thủ đắc liên minh, bảo dưỡng và chịu đựng. Ngoài ra, Nhật Bản nên bắt đầu tác động lên quyết định của mình để thư giãn các nguyên tắc xuất khẩu vũ khí bằng cách bán phần cứng quân sự có thể được sử dụng cho những nhiệm vụ như hỗ trợ thảm họa (giống như xe tải nặng) cho các nước hửu nghị khác.


_ Tiến sĩ Patrick M. Cronin là Cố vấn cao cấp và Giám đốc cao cấp của Chương trình An ninh châu Á-Thái Bình Dương tại Trung tâm an ninh mới của Mỹ.
_ Paul S. Giarra là Chủ tịch của Chiến lược toàn cầu và Chuyển đổi, và là Hải quân Trung Tá đã nghỉ hưu.
_ Zachary M. Hosford là một Trợ lý nghiên cứu tại Trung tâm an ninh mới của Mỹ.
_ Daniel Katz là một nhà nghiên cứu tại Trung tâm an ninh mới của Mỹ.


(Còn tiếp).

1    2    3