Vũ khí hạt nhân và mối quan hệ Mỹ - Trung.

mt
Elbridge A. Colby. Abraham M. Denmark. John K. Warden

Hoa Kỳ đã theo đuổi một chính sách bao vây chiến lược trong đó nó đã tham gia vào Trung Quốc để cố gắng tận dụng các lãnh vực thỏa thuận và tiếp tục đưa Trung Quốc hội nhập hơn nửa vào trật tự hiện có, đồng thời duy trì một khả năng mạnh mẽ để ngăn chặn, khắc chế, và (nếu cần) đánh bại bất kỳ sự xâm lăng nghiêm trọng nào của Trung Quốc chống lại Hoa Kỳ và các đồng minh của nó.
 ; Tháng Ba /2013.
Theo CSIS

BHM Lược dịch.

Chiến lược khu vực châu Á-Thái Bình Dương và vũ khí hạt nhân của Hoa Kỳ.

Đối với Hoa Kỳ, đối phó với Trung Quốc trong bối cảnh vũ khí hạt nhân phải được đóng khung trong cách tiếp cận rộng lớn hơn của Mỹ với trật tự quốc tế nói chung và khu vực Châu Á-Thái Bình Dương nói riêng. Từ quan điểm của Washington, các vấn đề hạt nhân giữa Washington và Bắc Kinh không phải là một vấn đề thuần túy song phương, cũng như không thể tách rời khỏi các vấn đề địa chính trị lớn hơn. Thay vào đó, phải được xem như là một phần cấu thành của chiến lược rộng lớn hơn của Mỹ đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương và đối với việc làm thế nào để Trung Quốc hội nhập vào một thế giới đang thay đổi.


Chính sách của Hoa Kỳ về các vấn đề này đã đặc biệt phù hợp trong sáu thập kỷ qua. Trong khi chiến lược và tư thế của Mỹ phát triển, Washington đã tìm cách duy trì và bảo vệ một trật tự trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương thuận lợi cho lợi ích của Mỹ. Cách tiếp cận này đã được thống nhất bắt nguồn từ một sự hiện diện mạnh mẽ của Mỹ trong khu vực, tham gia vào thể thức của cả những liên minh chính thức cũng như nhiều mối quan hệ ngầm với các quốc gia Châu Á khác nhau (1). Mỹ cũng đã lần lượt dựa vào khả năng của các lực lượng quân sự Mỹ tiếp tục thảo kế hoạch có hiệu quả trên khắp Tây Thái Bình Dương, qua đó bảo đảm sự tiếp cận của Mỹ để bảo vệ các đồng minh của mình và duy trì an ninh chung trên toàn cầu.

Như đã được chứng minh bởi nỗ lực "tái cân bằng" của chính quyền Barack Obama, chính phủ Hoa Kỳ tin rằng phương pháp tiếp cận cơ bản này đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương vẫn còn phù hợp tốt đẹp để bảo vệ lợi ích rộng lớn của Mỹ và thúc đẩy một trật tự thuận lợi về chính trị và kinh tế quốc tế, và Nhóm Công Tác đồng ý với đánh giá này. Do đó, Hoa Kỳ tiếp tục xem các mối quan hệ thân thiết trong liên minh của nó ở châu Á, cũng như sự hiện diện quân sự mạnh mẽ của nó, như là yếu tố bảo lãnh cần thiết cho sự ổn định và thịnh vượng của khu vực, qua đó lần lượt có lợi cho cả lợi ích riêng của mình lẫn lợi ích của toàn khu vực (2). Mặc dù các liên minh và các quan hệ đối tác này phải thích ứng để phản ảnh sự thay đổi thực tế của kinh tế và quân sự, bao gồm cả những áp lực ngày càng tăng của sự khan hiếm ngân sách, việc giữ lại cấu trúc an ninh cơ bản ở Thái Bình Dương có ý nghĩa đối với Hoa Kỳ và các đồng minh cùng đối tác của Mỹ.

Hoa Kỳ từ lâu đã xem Trung Quốc như là một yếu tố trọng tâm trong chiến lược của mình ở châu Á - ban đầu như là một kẻ thù, sau đó như là một đối trọng chống lại quyền lực của Liên Xô, và bây giờ là một đối tác quan trọng trong cộng đồng quốc tế. Từ những năm 1970, chính sách của Mỹ đã tìm cách để khuyến khích và góp phần cải cách kinh tế và phát triển của Trung Quốc trong chiều hướng tích hợp Trung Quốc vào trật tự chính trị và kinh tế quốc tế hiện hành. Mặc dù họ hy vọng rằng Trung Quốc sẽ phát triển thành một bên liên quan có tính cách xây dựng, Hoa Kỳ và phần lớn các quốc gia trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương liên tục chia xẻ mối quan tâm về một số thái độ, diện mạo và chính sách quân sự của Trung Quốc rằng, nó là đáng e ngại, có thể làm suy yếu sự ổn định khu vực và lợi ích của Mỹ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Kết quả là, trong thập kỷ qua, Hoa Kỳ đã theo đuổi một chính sách bao vây chiến lược trong đó nó đã tham gia vào Trung Quốc để cố gắng tận dụng các lãnh vực thỏa thuận và tiếp tục đưa Trung Quốc hội nhập hơn nửa vào trật tự hiện có, đồng thời duy trì một khả năng mạnh mẽ để ngăn chặn, khắc chế, và (nếu cần) đánh bại bất kỳ sự xâm lăng nghiêm trọng nào của Trung Quốc chống lại Hoa Kỳ và các đồng minh của nó.

Hoa Kỳ đã bắt đầu phản ứng quân sự với cảnh quan thay đổi chiến lược trong khu vực Đông Á do sự trỗi dậy của Trung Quốc gây ra. Có một cảm giác ngày càng tăng giữa các nhà lãnh đạo và các chuyên gia quốc phòng của Mỹ rằng sự nổi lên của Trung Quốc đòi hỏi một sự đầu tư nghiêm túc và bền vững trong các khả năng quân sự cao cấp của Mỹ, cũng như các mối quan hệ chính trị trong khu vực, nếu Hoa Kỳ hy vọng duy trì một sự cân bằng thuận lợi thông thường ở Tây Thái Bình Dương. Nhiều chương trình của bộ Quốc phòng, chẳng hạn như sáng kiến Hải-Không Chiến, được hiểu tốt nhất như là những nỗ lực để duy trì một sự cân bằng quân sự thuận lợi ở Thái Bình Dương. Hướng về phía trước, sự gia tăng của Trung Quốc là rất có khả năng để làm một "anh cả", nếu không minh định, vai trò của Mỹ trong việc lập kế hoạch quốc phòng, thu mua, và ngoại giao.

Sự trỗi dậy của Trung Quốc cũng có thể có một tác động đáng kể trên chính sách hạt nhân của Mỹ. Vũ khí hạt nhân đã là một phần quan trọng trong tư thế của Hoa Kỳ ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương kể từ khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ II. Trong Chiến tranh Lạnh, khi Hoa Kỳ thường được cho là kém hơn so với Liên Xô, vũ khí hạt nhân đóng một vai trò trọng tâm trong việc ngăn chặn chiến tranh thông thường thuộc loại nghiêm trọng. Ngày nay, với sự sụp đổ của Liên Xô và với tiến bộ công nghệ trong khả năng quân sự của Mỹ, lực lượng quân đội thông thường tạo thành trọng tâm chính trong quy hoạch và bố trí quốc phòng của Mỹ ở Đông Á (3).

Cho dẫu với sự nổi bật bị thu nhỏ của chúng, vũ khí hạt nhân của Mỹ tiếp tục đóng một vai trò quan trọng ở Đông Á (4). Đầu tiên, chúng dùng để ngăn chặn một cuộc tấn công hạt nhân. Nhiệm vụ này có thể tăng thêm tầm quan trọng kể từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh, bởi vì ưu thế vượt trội thông thường mà hiện nay Hoa Kỳ có được, có thể cung cấp cho kẻ thù động cơ sử dụng vũ khí hạt nhân để cố gắng tránh một thất bại thông thường. Thứ hai, bất kỳ quốc gia nào xem xét việc sử dụng các lực lượng quân sự để thách thức các lợi ích của Mỹ không thể loại trừ khả năng rằng xung đột đó sẽ leo thang đến mức xử dụng hạt nhân, tại thời điểm mà các phương tiện khí tài có giá trị nhất của quốc gia sẽ gặp rủi ro (5). Vì lý do này, vũ khí hạt nhân của Mỹ vẫn còn đóng góp cho một kiến ​​trúc an ninh được thiết kế để ngăn chặn sự xâm lược chống lại Hoa Kỳ, các lực lượng triển khai, và các đồng minh cùng đối tác của Mỹ. Và cuối cùng, một số đồng minh của Mỹ ở Đông Á, một số trong họ xem sự tiến hành chương trình hạt nhân của Bắc Triều Tiên và khả năng quân sự đang phát triển của Trung Quốc với sự âu lo, tiếp tục nhận thức lực lượng hạt nhân của Mỹ như là sự bảo đảm cuối cùng trong các cam kết mở rộng ngăn chặn của Mỹ và thúc ép Hoa Kỳ tái khẳng định cam kết đó (6). Hoa Kỳ xem việc bảo đảm cho các đồng minh như là một mục tiêu quan trọng, nhất là vì những bảo đảm an ninh của Hoa Kỳ là một yếu tố quan trọng trong việc làm giảm các động cơ của các đồng minh để thủ đắc vũ khí hạt nhân riêng của họ. Nếu nỗ lực hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc là để làm chậm, hoặc nếu Hoa Kỳ có thể duy trì một tính ưu việt quân sự thông thường đáng tin cậy hơn so với Trung Quốc đến nổi không thể tin được Trung Quốc có thể đe dọa an ninh của Mỹ hoặc đồng minh với các lực lượng thông thường của nó, lực lượng hạt nhân của Mỹ có thể trở thành thậm chí ít nổi bật hơn so với chúng ngày nay (7).

Ngược lại, vũ khí hạt nhân có thể trở nên nổi bật hơn đối với chiến lược của Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương nếu sự cân bằng sức mạnh quân sự thông thường trong khu vực trở thành bất lợi cho các lợi ích của Mỹ. Như một động thái có khả năng được tăng cường nếu Trung Quốc chọn sử dụng sức mạnh quân sự đang phát triển của nó để cố gắng loại trừ Hoa Kỳ ra khỏi khu vực, che chắn Bắc Triều Tiên khỏi những hậu quả gây chiến của nó, thách thức sự cởi mở và ổn định chung trên toàn cầu , hoặc có một cách tiếp cận quyết đoán hơn trong việc giải quyết những tranh chấp lãnh thổ (8).

Trong tư thế vượt trội thông thường của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương, nó hoàn toàn không có khả năng, trong điều kiện hiện tại, rằng Hoa Kỳ sẽ sử dụng vũ khí hạt nhân trước (mặc dù rõ ràng nó vẫn giữ quyền được sử dụng vũ khí hạt nhân trước như là một vấn đề của chính sách) (9). Sự cân bằng thông thường ở Tây Thái Bình Dương, tuy nhiên, vốn năng động. Do đó, có một khả năng thực sự rằng, trong tương lai, lực lượng thông thường của Mỹ có thể không đủ để đối phó với mọi tình huống thông thường đáng tin cậy. Có một số bất đồng trong Nhóm Công Tác về việc có bao nhiêu sự cân bằng sẽ phải thay đổi trước những kịch bản như vậy phát sinh, mất bao nhiêu thời gian cho sự chuyển đổi như vậy có thể xảy ra, và xác suất xảy ra của nó. Tuy nhiên, không có bất đồng về hai điểm chính. Thứ nhất, nếu Trung Quốc thành công đạt được sự thống trị cục bộ thông thường trong những sự kiện bất ngờ (phác thảo trong một thời gian ngắn), sự cân bằng thay đổi sẽ ảnh hưởng đến lợi ích chính yếu của Mỹ, cũng như các đồng minh và đối tác của Mỹ. Thứ hai, nếu điều này xảy ra, Hoa Kỳ và các đồng minh của nó chắc chắn sẽ phải xem xét một vai trò lớn hơn dành cho vũ khí hạt nhân trong chiến lược của mình để bù đắp sự sụt giảm thông thường tương đối, và vũ khí hạt nhân của Mỹ sẽ đóng một vai trò lớn hơn trong suy nghĩ của Trung Quốc.

Vì lý do này, Nhóm Công Tác tin rằng Hoa Kỳ cần phải làm việc để duy trì một tư thế quân sự thông thường có khả năng cao, một phần để duy trì một sự cân bằng thuận lợi thông thường về sức mạnh quân sự trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Tuy nhiên, Hoa Kỳ cũng nên cố gắng giảm thiểu các động thái trên mặt an ninh nan giải và tiềm năng vòng xoắn bất ổn mà sự đầu tư và triển khai có thể đòi hỏi.

Nguồn gốc của những căng thẳng và xung đột có thể xảy ra.

Việc xem xét mối quan hệ hạt nhân Mỹ-Trung sẽ là một bài tập chủ yếu là để học tập chứ không có nguy cơ nghiêm trọng gây ra xung đột và căng thẳng mà các mối quan hệ đó đưa đến. Thật không may, nguồn gốc quan trọng của sự căng thẳng và bất đồng giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong trường hợp xấu nhất, có thể dẫn đến xung đột vì một số tranh chấp này đặt những lợi ích có giá trị cao xen giữa Washington và Bắc Kinh và có thể trở nên trầm trọng hơn bởi các bên thứ ba, bởi thông tin nhầm lẫn và tính toán sai lầm, bởi áp lực chính trị trong nước, và bởi nhu cầu nhận thức "giữ thể diện" (10 ). Hơn nữa, vài trong số những tranh chấp này có vẻ có khả năng được giải quyết dứt điểm trong thời gian tới. Ngoài tranh chấp, cũng còn có thực tế địa chính trị đơn giản từ sự trỗi dậy của một cường quốc mới trong một vũ đài đã có sẳn một cường quốc đã được thiết lập tốt đẹp. Từ thời xa xưa, thực tế này đã được chứng minh là nguồn gốc của sự căng thẳng và cạnh tranh giữa các quốc gia - và thường dẫn đến chiến tranh.

Một cuộc chiến tranh thông thường trên quy mô lớn giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc sẽ là cực kỳ nguy hiểm và phá hủy, và chiến tranh hạt nhân giữa hai nước sẽ gây tổn hại cho tất cả mọi bên tham gia. Mặc dù khả năng chiến tranh thông thường giữa hai nước hiện nay là thấp - và khả năng một cuộc chiến tranh hạt nhân thậm chí còn thấp hơn - cái giá phải trả quá kinh khủng, nguy hiểm, và những rủi ro của một nhu cầu chiến tranh mà qua đó nguy cơ này nhận lấy hậu quả nghiêm trọng và rằng các bước được thực hiện để gây nên xung đột vũ trang không có nhiều khả năng và ít nguy hiểm. Thực tế là Trung Quốc và Hoa Kỳ có thể đi đến những tai họa không có nghĩa là bất kỳ cuộc xung đột nào cũng sẽ dẫn đến sử dụng vũ khí hạt nhân, nhưng nó cũng không có nghĩa rằng việc sử dụng vũ khí hạt nhân có thể được loại trừ một cách tự tin, đặc biệt là bởi vì thậm chí những xung đột dưòng như trên các vấn đề hàng hải có thể - ở trong những cách hoàn toàn không được dự đoán trước - leo thang thành những xung đột về các lợi ích cốt lõi. Đối với những lý do này, có lẽ nhiệm vụ quan trọng duy nhất trong nghệ thuật lãnh đạo đất nước của người Mỹ trong thế kỷ tới sẽ là việc quản lý sự trỗi dậy của Trung Quốc trong một đường lối giữ gìn hòa bình trong khi cũng bảo vệ các lợi ích quan trọng của Mỹ (11).

Các yếu tố sau có thể đe dọa các mục tiêu đó.

Những Tranh chấp.


  • Đài Loan. Đài Loan vẫn là nguồn gốc duy nhất chính đáng và nguy hiểm nhất của sự căng thẳng và xung đột giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Bắc Kinh tiếp tục thiết lập một chính sách ngăn chặn độc lập của Đài Loan, và Hoa Kỳ duy trì khả năng để mạnh dạn bảo vệ cho Đài Loan (12). Mặc dù những căng thẳng ngang qua eo biển Đài Loan đã giảm xuống kể từ khi cả Đài Bắc lẫn Bắc Kinh chấp nhận một chính sách hội nhập trong năm 2008, tình hình vẫn dễ bị khích động, phức tạp bởi sự chia rẻ nhanh chóng trên những vấn đề về năng lực quân sự và những bất đồng chính trị dai dẳng (13). Hơn nữa, trong tương lai gần Đài Loan có thể có sự bất ngờ trong lãnh vực vũ khí hạt nhân, qua đó sẽ có nhiều khả năng trở thành một nhân tố chính, bởi vì số phận của hòn đảo được gắn bó với cả tính hợp pháp của Đảng Cộng sản Trung Quốc và độ tin cậy vào các cam kết bảo vệ của Mỹ trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.


  • Bán đảo Triều Tiên. Khả năng thực sự một cuộc xung đột giữa Bắc và Nam Triều Tiên hay sự sụp đổ của chế độ Bắc Triều Tiên, cả hai đều có liên quan đến quyền lợi quan trọng của Mỹ và của Trung Quốc, làm tăng nỗi ám ảnh về một cuộc đụng độ khác giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trên bán đảo Triều Tiên.


  • Tranh chấp lãnh thổ và phân định ranh giới hàng hải. Tranh chấp trong các vùng biển Hoa Đông và biển Đông về chủ quyền các hòn đảo nhỏ, phân định biên giới trên biển, và trong một số trường hợp quyền sở hữu các nguồn tài nguyên hydrocarbon có thể nằm dưới đáy biển, gần đây đã gia tăng căng thẳng giữa Trung Quốc và các quốc gia khác trong khu vực (14). Mặc dù những tranh chấp này dường như chưa có khả năng dẫn đến xung đột lớn giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, chúng chắc chắn cung cấp mồi lửa cho xung đột tiềm năng giữa hai nước, vì các tranh chấp liên can đến một số lợi ích quan trọng trong khu vực, bao gồm cả lợi ích của các đồng minh có ký kết hiệp ước với Hoa Kỳ.


Làm trầm trọng thêm các yếu tố.


  • Thông tin nhầm lẫn và hiểu lầm. Sự nguy hiểm được gây ra bởi những điểm nóng tiềm năng này được phóng đại bởi khả năng thông tin nhầm lẫn và hiểu lầm giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ. Mặc dù Bắc Kinh và Washington đã đồng ý với nhau về một loạt các cơ chế quản lý khủng hoảng, chẳng hạn như Hiệp định Tư vấn Hàng hải Quân sự (MMCA) và thành lập một đường dây nóng trực tiếp giữa Ngũ Giác Đài và Bộ Quốc phòng Quốc gia (TQ), các cơ sở để thông tin nhầm lẫn và hiểu lầm vẫn còn đó và gợi đến những hồ sơ nghi ngờ ẩn sâu trong lịch sử (15). Ví dụ, thật là không rõ ràng cho cả hai bên thấu hiểu những loại hành động gì sẽ gây ra một phản ứng quân sự, hoặc thậm chí hạt nhân, của bên kia. Hơn nữa, không bên nào có vẻ tin rằng các chính sách và ý định được tuyên bố của bên kia, cho thấy quản lý được sự leo thang, đã là một nỗ lực rất không chắc chắn, có thể đặc biệt khó khăn trong bất kỳ cuộc xung đột nào. Hơn nữa, việc tiếp tục mở rộng các mối quan hệ quân sự trong không gian và không gian mạng mở đầu các yếu tố bổ sung làm trầm trọng thêm.


  • Các yếu tố hạt nhân bên ngoài . Mối quan hệ hạt nhân Mỹ-Trung Quốc rất phức tạp bởi thực tế rằng cả hai bên có mối quan hệ hạt nhân với các nước khác, và những thay đổi liên quan đến một mối quan hệ có thể có ảnh hưởng lớn đến tất cả chúng. Ví dụ, mặc dù Trung Quốc tập trung vào Hoa Kỳ khi nói đến vũ khí hạt nhân, các nước khác - đặc biệt là Nga và Ấn Độ - chú ý ngay tới chính sách và khả năng hạt nhân của Trung Quốc và điều chỉnh cho phù hợp, và ngược lại (16). Do đó, hành vi của Trung Quốc về các vấn đề hạt nhân đối với Hoa Kỳ có thể có ý nghĩa quan trọng cho các mối quan hệ chiến lược khác. Ví dụ, nếu Trung Quốc quyết định tăng cường lực lượng hạt nhân của mình để ứng phó với Ấn Độ, các mối quan tâm sẽ xuất hiện tại Hoa Kỳ. Những mối quan tâm này có thể góp phần ma sát trong mối quan hệ Mỹ-Trung Quốc.


Căng thẳng bên dưới cấu trúc.


  • Cường quốc đã hình thành và đang lên. Ngoài các tranh chấp cụ thể và các yếu tố làm trầm trọng thêm, căng thẳng giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc có khả năng tồn tại với lý do đơn giản rằng một cường quốc đang lên chẵng hạn như Trung Quốc bị thừa nhận là nguyên nhân gây ra va chạm khi các mục tiêu mở rộng và sự cọ xát từ sức mạnh đang phát triển của nó chống lại lợi ích của các quốc gia khác trong khu vực của mình, bao gồm cả quyền lực thống trị lâu nay - Hoa Kỳ. Nghiên cứu quan hệ quốc tế từ lâu đã cho rằng "quá trình chuyển đổi quyền lực" như vậy là đặc biệt đầy nguy hiểm để gây nên xung đột vì những lý do bởi cả các tính toán cụ thể cho quyền lực và sự giàu có cùng nhiều yếu tố danh dự và sự kiêu hãnh không thể nói ra được (17). Trong lịch sử, một quốc gia đang nổi luôn luôn tự tin chắc chắn ​​sẽ có ảnh hưởng lớn hơn và phải được tôn trọng để phù hợp với tầm vóc phát triển của nó, nhưng các quốc gia đã sở hữu sự ảnh hưởng đó nói chung là không muốn chia phần với nó, đặc biệt là nếu họ không tin tưởng hoặc chia sẻ các giá trị cơ bản với nhà nước đang nổi lên. Vì vậy, những căng thẳng có thể gia tăng. Các vấn đề về cấu trúc cơ bản trong việc Trung Quốc trổi dậy như thế nào để có thể phù hợp với vị thế đã được thiết lập của Mỹ và trật tự khu vực hiện có, qua đó Washington ũng hộ, đã được tăng cường bởi các căng thẳng về ý thức hệ giữa một cấu trúc quyền lực toàn cầu đã thành lập và được giám sát bởi những sức mạnh tự do dân chủ và một quyền lực đang nổi lên với một chính phủ độc tài. Một lần nữa, những căng thẳng như vậy không nhất thiết phải dẫn đến xung đột và chiến tranh, nhưng chúng có thể.


  • An ninh nan giải. Trong tình trạng đối kháng rộng lớn hơn này, có một mối nguy hiểm thực sự mà những tình trạng đối kháng về cấu trúc giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc đang tạo ra một tình thế an ninh tiến thoái lưỡng nan cổ điển, trong đó các hành động được thực hiện bởi một bên để tăng cường sức mạnh phòng thủ của nó được hiểu như là thù địch hay đe dọa phía bên kia, do đó việc gợi ra một phản ứng phòng thủ thì trước tiên nó lại được xem như là thù địch hoặc đe dọa, vân...vân...(18). Mặc dù dường như tình trạng đối kháng này đã tồn tại trong một số khía cạnh trong lĩnh vực cạnh tranh quân sự thông thường - ví dụ, Trung Quốc đã chứng minh những khả năng thông thường của Mỹ, hiện đang dẫn đầu một phản ứng bù lại của Mỹ - tình trạng đối kháng như vậy đến nay đã có một ảnh hưởng hạn chế trên tình trạng đối kháng hạt nhân Mỹ-Trung. Đây là may mắn bởi vì một tình thế an ninh nan giải trong lĩnh vực hạt nhân thực sự sẽ gây mất ổn định, tăng cường sự nghi ngờ, và có khả năng nâng cao nguy hiểm từ xung đột leo thang. Các điều kiện, tuy nhiên, tồn tại như một động lực để phát triển: việc tích lủy tên lửa đáng kể của Trung Quốc (thông thường và hạt nhân), mở rộng dần lực lượng hạt nhân của nước này trong thập kỷ qua, và phát triển những khả năng bất đối xứng của nó - kết hợp với các mối quan tâm của Trung Quốc về sự phát triển lá chắn tên lửa đạn đạo mới của Mỹ (BMD) và những khả năng tấn công thông thường chớp nhoáng toàn cầu (CPGS) - cung cấp các thành tố cho một tình thế an ninh nan giải trong vũ đài chiến lược (19). Một vài học giả Trung Quốc đã tuyên bố rằng việc mở rộng lực lượng tên lửa hạt nhân của Trung Quốc được thiết kế để bù đắp cho những tiến bộ trong các khả năng BMD, CPGs, và tấn công chiến lược của Mỹ (20). Trong khi đó, một số tiếng nói của Hoa Kỳ chỉ ra việc mở rộng các lực lượng hạt nhân và tên lửa của Trung Quốc như là bằng chứng của ý định thù địch và nhất thiết phải cải thiện khả năng của Hoa Kỳ.


Kết hợp những yếu tố này - thách thức sự quản lý quá trình chuyển đổi của Trung Quốc để đóng vai trò như là một cường quốc, các nguồn gốc lâu dài của sự căng thẳng, và tiềm năng cho những hiểu lầm và tính toán sai lầm - không có nghĩa rằng xung đột vũ trang là không thể tránh khỏi hoặc thậm chí có khả năng. Trong thực tế, một vài yếu tố kinh tế và an ninh nói chung có thể giảm thiểu khả năng một cuộc xung đột (21). Nhưng xung đột vẫn có thể xảy ra. Bởi vì một cuộc xung đột như vậy ít nhất sẽ là phá hủy ghê gớm và hoàn toàn có thể hủy diệt tàn khốc - đặc biệt là khi nó liên quan đến vũ khí hạt nhân - đó là bổn phận của Hoa Kỳ và Trung Quốc hành sự để giảm thiểu khả năng và những nguy hiểm của một cuộc xung đột xảy ra bất thình lình.

Cuối cùng, sự nổi lên của Trung Quốc đặt ra cho Hoa Kỳ, và tất cả khu vực châu Á-Thái Bình Dương, với những nhiệm vụ khó khăn và hết sức phức tạp trong việc tìm cách đối phó với sự trỗi dậy của một cường quốc có những ý định không rỏ ràng cùng những khả năng đang phát triển và đưa nó hội nhập vào trật tự chính trị, kinh tế, quân sự của quốc tế và khu vực. Một mặt, Mỹ có thể và nên làm việc với các đồng minh và các đối tác của mình để tham gia vào Trung Quốc hầu giảm thiểu tình trạng an ninh nan giải và tiếp tục khuyến khích sự hội nhập của nó đi vào hệ thống quốc tế như là một sức mạnh, góp phần cho sự lành mạnh và thành công của hệ thống quốc tế . Mặt khác, Hoa Kỳ sẽ cần phải tiếp tục triển khai một lực kượng quân đội mạnh mẽ với những khả năng quân sự, cũng như các mối quan hệ chính trị và kinh tế sâu sắc với toàn bộ khu vực, để phòng vệ trước khả năng của một Trung Quốc nham hiểm hay hung hăng hơn. Các tranh chấp và bất đồng tiếp tục giữa Trung Quốc với các nước láng giềng của nó, và Hoa Kỳ, đặt trong bối cảnh sức mạnh chiến lược ngày càng tăng của Trung Quốc, cho biết rằng xung đột, bao gồm cả xung đột nghiêm trọng, có thể xảy ra trong những thập kỷ tới.

Chú thích :

1. Hoa Kỳ hiện nay mở rộng những bảo đảm an ninh dựa trên các hiệp ước kýkết với Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines, và Thái Lan. Theo Đạo luật quan hệ Đài Loan, Hoa Kỳ đã khẵng định rõ ràng rằng nó sẽ coi việc sử dụng vũ lực để quyết định tình trạng của Đài Loan với "lo ngại nghiêm trọng," mà nó đã cam kết duy trì năng lực để chống lại việc sử dụng lực hoặc ép buộc đối với Đài Loan, và rằng nó sẽ cung cấp cho Đài Loan theo các điều khoản bảo vệ và các dịch vụ cần thiết cho sự phòng vệ riêng của mình. Hoa Kỳ cố tình mơ hồ về những gì nó sẽ làm nếu Đài Loan tuyên bố độc lập. Hoa Kỳ cũng có mối quan hệ an ninh chính thức với các quốc gia khác trong khu vực như Singapore.
2. Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, "Duy trì lãnh đạo toàn cầu của Mỹ: ưu tiên cho phòng thủ thế kỷ 21", Washington, DC, 2012, 2.
3. Trên mặt lịch sử, xem Elbridge A. Colby, "Chính sách Vũ khí hạt nhân và hoạch định chính sách của Mỹ : Kinh nghiệm của châu Á ", vũ khí hạt nhân và NATO, Tom Nichols . (Carlisle, PA: Viện Nghiên cứu Chiến lược, 2012), 75-105.
4. Samuel W. Bodman và Robert M. Gates, những người ký kết, "an ninh quốc gia và vũ khí hạt nhân trong thế kỷ 21", Cục Năng lượng và Quốc phòng, Washington, DC, 2008, 1, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, Báo cáo đánh giá tư thế hạt nhân (Washington, DC: Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, Tháng Tư, 2010), 31-35 ,http://www.defense.gov/npr/docs/2010% 20nuclear% 20posture% 20review% 20report.pdf.
5. Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, "Khái niệm điều hành hoạt động ngăn chặn chung, Washington, DC, 2006, 39-40.
6. Xem Condoleezza Rice và những gì liên quan, "Tuyên bố chung của Ủy ban Tư vấn An ninh, chuyển đổi đồng minh : Thúc đẩy Hợp tác An ninh và Quốc phòng Hoa Kỳ-Nhật Bản", ngày 01 tháng 5 2007, http://www.mofa.go.jp/region. / n-america/us/security/scc/joint0705.html, Nhà Trắng, văn phòng thư ký báo chí, "Tầm nhìn chung về Liên minh của Hoa Kỳ và Hàn Quốc", Washington, DC , ngày 16 tháng 6 năm 2009, http://www.whitehouse.gov/the_press_office/
Joint-vision-for-the-alliance-of-the-United-States-of-America-and-the-Republic-of-Korea.
7. Tuy nhiên, những thách thức khác trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, bao gồm cả những vấn đề từ Bắc Triều Tiên và Nga, có thể thể hiện sự nổi bật của lực lượng hạt nhân Mỹ trong tương lai gần.
8. Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, "Báo cáo thường niên trước Quốc hội: những phát triển quân sự và an ninh gây chú ý của Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc năm 2012", Washington, DC, 2012, 3.
9. Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, Báo cáo đánh giá Tư thế hạt nhân, viii.
10. James Dobbins, "Chiến tranh với Trung Quốc," Sống còn: Chính trị và chiến lược toàn cầu 54 (August-tháng 9 năm 2012): 7-9.
11. Henry A. Kissinger, Về Trung Quốc (New York: Penguin, 2011), 514-30.
12. Hoa Kỳ đã duy trì nhất quán chính sách "một Trung Quốc" - dựa trên ba Thông cáo chung Mỹ-Trung và Đạo luật quan hệ Đài Loan - trải qua 8 vị tổng thống nắm chính quyền. Nó phản đối bất cứ hành động đơn phương nào của hai bên để làm thay đổi tình trạng hiện tại và tin rằng các vấn đề ngang qua eo biển phải được giải quyết một cách hòa bình trong phong cách chấp nhận được của người dân ở cả hai bên eo biển Đài Loan.
13. Richard Betts cũng đã quan sát thấy sự nguy hiểm xuất phát từ tình hình Đài Loan, mà ông gọi là "điểm nóng chính tiềm năng cho Hoa Kỳ ở Đông Á." Ông lưu ý rằng "không có điểm nóng nghiêm trọng nào khác có nhiều khả năng để đưa Hoa Kỳ đi vào chiến đấu với một quyền lực quan trọng. . . . Mỹ và Trung Quốc nhìn thấy những vấn đề đang đe dọa trong tranh chấp với Đài Loan trong các tình huống khác nhau; chính sách của Mỹ về việc bảo vệ Đài Loan là chưa nhất định, và đó là sự hiểu biết ở Bắc Kinh, Đài Bắc, và Washington về việc Hoa Kỳ có thể đi bao xa trong những hoàn cảnh khác nhau." Ông khẵng định rằng" không cường quốc nào có thể hoàn toàn kiểm soát được những phát triển có thể kích động một cuộc khủng hoảng. Đây là một cách làm cổ điển đối với sự bất ngờ, tính toán sai lầm, và leo thang không kiểm soát được" Xem Richard K. Betts, American Force: nguy hiểm, ảo giác, và tình thế an ninh quốc gia nan giải. (New York: Columbia University Press, 2012), 186.
14. Thái độ lịch sử của Trung Quốc đối với các tranh chấp này theo lịch sử , xem M. Taylor Fravel, Strong Bor-ders, Secure Nation: Hợp tác và xung đột trong tranh chấp lãnh thổ của Trung Quốc (Princeton, NJ: Princeton Uni học Press, 2008).
15. Những thách thức liên quan đến thông tin liên lạc giữa các cơ sở quân sự Mỹ và của Trung Quốc, đặc biệt là trong một cuộc khủng hoảng, đã được chứng minh đầy đủ trong thời gian sự cố EP-3, 2001. Mặc dù các kênh thông tin liên lạc đã được thành lập, Trung Quốc không ưa tiếp xúc trao đổi với Hoa Kỳ và thay vào đó quay vào trong để phát triển một sự đồng thuận theo kiểu ưu tiên tấn công. Một lần duy nhất mà sự đồng thuận nội bộ được thành lập đã làm phía đối thoại Trung Quốc tham gia với đối tác Mỹ của họ. Cách tiếp cận này hoàn toàn làm xói mòn mục đích của các cơ chế quản lý khủng hoảng và có thể có khả năng nhanh chóng ngăn chặn để Trung Quốc tiết chế một cuộc khủng hoảng đang phát triển. Đối với một số trường hợp nghiên cứu về chiến lược này đã được sử dụng, xem Michael D. Swaine, Zhang Tuosheng, và Danielle FS Cohen, Giám sát khủng hoảng Trung-Mỹ : Nghiên cứu tình huốngvà Phân tích (Washington, DC: Carnegie Endowment for International Peace, 2006)
16. James M. Acton, "Bombs Away? thực tế về cắt giảm hạt nhân " Washington Quarterly35 (Spring 2012): 38-41.
17. Xem, ví dụ, AFK Organski, Chính Trị Thế Giới (New York: Knopf, 1968), Robert Gilpin, "chiến tranh và thay đổi trong chính trị thế giới" (Cambridge: Cambridge University Press, 1981). Những tuyên bố cổ điển của vấn đề này, tuy nhiên, vẫn còn được thực hiện bởi Thucydides năm 431 trước Công nguyên trong "Lịch sử cuộc chiến của người Hy Lạp (http://classics.mit.edu/Thucydides/pelopwar.html) : "Điều gì đã khiến chiến tranh không thể tránh khỏi là sự phát triển quyền lực và nỗi sợ hãi của Athens gây ra ở Sparta."
18. Đối với các cuộc thảo luận cổ điển về "tình trạng an ninh nan giải," xem Thucydides, Lịch sử cuộc chiến của người Hy Lạp; Herbert Butterfield, Lịch sử và quan hệ nhân loại (London: Collins, 1951), John Herz, "chủ nghĩa duy tâm quốc tế và Tình thế an ninh nan giải", chính trị thế giới 2 ( tháng 1 năm 1950): 157-80; Robert Jervis, Ý nghĩa của cuộc Cách mạng hạt nhân (Ithaca, NY: Cornell University Press, 1989), 53-57.
19. James M. Acton, "Vũ khúc của Con Rồng: Hợp tác An ninh Mỹ-Trung," Mười Thách thức và cơ hội toàn cầu cho Tổng thống vào năm 2013, ed. Jessica T. Matthews (Washington, DC: Carnegie Endowment for International Peace, 2012), 121-23.
20. Ví dụ, xem Yao Yunzhu, "Chính sách hạt nhân của Trung Quốc và tương lai của Chiến lược răn đe tối thiểu" trong"nhận thức về vấn đề hạt nhân chiến lược Trung-Mỹ", ed. Christopher P. Twomey (New York: Palgrave Macmillan, 2008), 111-24. Yao là một thiếu tướng và là một chuyên gia về các vấn đề hạt nhân tại Học viện Khoa học Quân sự của Quân đội Giải phóng Nhân dân.
21. Ba chủ đề nhận được nhiều sự chú ý trong các tài liệu học tập về mối liên kết giữa quan hệ kinh tế và hòa bình. Thứ nhất là thương mại làm giảm bớt lợi ích tương đối của sự chinh phục, do đó làm suy giảm ưu tiên đối với sự bành trướng. Thứ hai là phụ thuộc thương mại làm tăng cái giá phải trả cho chiến tranh giữa hai quốc gia vì chiến tranh có nghĩa là họ phải từ bỏ các lợi ích thương mại. Cuối cùng, thương mại dẫn đến sự tương tác ngày càng tăng giữa nhân dân hai nước, thúc đẩy lòng tin và sự hiểu biết, do đó làm giảm xu hướng ủng hộ xung đột. Xem Stephen G. Brooks, "Toàn cầu hoá sản xuất và các lợi ích đang thay đổi sự xâm chiếm", Journal of Conflict Resolution43 (tháng 10 năm 1999): 646-70, Peter Liberman," chiến lợi phẩm của sự xâm chiếm" An ninh quốc tế 18 (Fall 1993): 125-53; Albert O. Hirschman, National Power và cơ cấu của Ngoại thương (Berkeley: University of California Press, 1980), 3-39; Richard Rosecrance, The Rise of Trading States : Thương mại và Xâm chiếm trong thế giới hiện đại (New York: Basic Books, 1986). Mặt khác, các cuộc chiến tranh có thể xảy ra ngay cả khi chúng không có lợi ích kinh tế, một phần vì chiến tranh không phải là luôn luôn hoặc thậm chí thường được tiến hành bởi lý do kinh tế. Hơn nữa, chiến tranh có thể trong thực tế, "xảy ra" trong những hoàn cảnh nhất định. Xem, ví dụ, Peter Liberman, Does Conquest Pay ? Sự bóc lột của xã hội công nghiệp bị chiếm đóng (Princeton, NJ: Princeton University Press, 1998)