Tại sao nền kinh tế của Trung Quốc có thể ngã đổ.

Matt Kenyon minh họa một con rồng Trung Quốc © Matt Kenyon

Matt Kenyon minh họa một con rồng Trung Quốc © Matt Kenyon

Như Nhật Bản đã cho thấy, việc chuyển sang một mô hình tăng trưởng thấp hơn là đầy nguy hiểm.


Martin Wolf. 02 tháng 4 năm 2013 06:42.
Theo Financial Times

BHM Lược dịch.

Trong thập kỷ tới, tăng trưởng của Trung Quốc sẽ chậm lại, có thể dể nhận thấy. Đó không phải là quan điểm của những người ác độc ở bên ngoài. Đó là quan điểm của chính phủ Trung Quốc. Câu hỏi đặt ra là liệu nó sẽ xảy ra như vậy một cách êm ả hoặc đột ngột. Câu trả lời không chỉ phụ thuộc vào riêng tương lai của Trung Quốc, mà còn của cả thế giới.




Ý kiến của quan chức Trung Quốc bày tỏ tại Diễn đàn Phát triển Trung Quốc hồi tháng trước, được tổ chức bởi Trung tâm Nghiên cứu Phát triển của Hội đồng Nhà nước (DRC), qua đó đã thuyết phục những người nước ngoài có ảnh hưởng cùng với các quan chức cấp cao. Trong số các tài liệu nền tảng là một tài liệu được chuẩn bị bởi các nhà kinh tế tại DRC, tựa đề "Triển vọng Mười năm : tiềm năng sụt giảm tốc độ tăng trưởng và bắt đầu một giai đoạn tăng trưởng mới". Đề xuất của nó là tăng trưởng của Trung Quốc sẽ giảm từ hơn 10% mỗi năm từ 2000 đến 2010 xuống còn 6,5% từ năm 2018 đến 2022. Sự sụt giảm như vậy, hồ sơ ghi chú, phù hợp với sự suy giảm kể từ quý thứ hai của năm 2010 (xem biểu đồ).

64b9daca-9bb7-11e2-8485-00144feabdc0.img.gif Các tác giả lưu ý hai lý do có thể gây nên sụt giảm : hoặc là Trung Quốc đã rơi vào "bẫy thu nhập trung bình" bởi sự công nghiệp hóa bị thui chột, hoặc nó đang được quản lý để "hạ cánh tự nhiên", mà điều đó xảy ra khi nền kinh tế bắt đầu bắt kịp với các nền kinh tế tiên tiến. Kịch bản thứ hai diễn ra tại Nhật Bản vào những năm 1970 và Hàn Quốc trong những năm 1990. Hồ sơ của DRC lập luận rằng, sau 35 năm tăng trưởng 10%, đó là sự việc cuối cùng xảy ra cho Trung Quốc.

Dưới đây là một vài lý do tại sao các tác giả nói rằng quan điểm này là chính đáng. Thứ nhất, tiềm năng để đầu tư cơ sở hạ tầng đã "co lại rõ ràng", với thị phần của nó trong đầu tư tài sản cố định giảm từ 30% xuống còn 20% trong thập kỷ qua. Thứ hai, lợi nhuận trên tài sản đã hạ thấp và năng suất dôi dư đã tăng vọt. "Gia tăng tỷ lệ công suất vốn" - một biện pháp đo lường sự tăng trưởng được tạo ra bởi một mức đầu tư nhất định - đạt 4,6 trong năm 2011, mức cao nhất kể từ năm 1992. Trung Quốc ngày càng thiếu tăng trưởng số tiền chi ra cho ra đầu tư. Thứ ba, tốc độ tăng trưởng của việc cung cấp lao động đã giảm mạnh. Thứ tư, quá trình đô thị hóa vẫn đang nổi lên, nhưng với tốc độ chậm. Cuối cùng, những rủi ro đang ngày càng tăng trong tài chính của các chính quyền địa phương và hệ thống bất động sản.

Các tác giả đồng ý, trộn lẫn các lý do này là đủ, để cho biết rằng một quá trình chuyển đổi đến tăng trưởng chậm hơn đã bắt đầu. Để phân tích các viễn cảnh chặt chẽ hơn, các tác giả sử dụng một mô hình kinh tế. Kết quả nổi bật nhất của nó là sự đảo ngược các xu hướng đã được thành lập từ lâu. Đầu tư cố định tăng lên 49% GDP vào năm 2011. Nhưng điều này được dự báo sẽ giảm xuống còn 42% vào năm 2022. Trong khi đó, tỷ lệ tiêu dùng trong GDP được dự báo sẽ tăng từ 48% lên 56% vào năm 2022. Một lần nữa, tỷ trọng đóng góp của công nghiệp được dự báo sẽ giảm từ khoảng 45% GDP xuống còn 40%, trong khi tỷ trọng của dịch vụ nhảy từ 45% lên 55%. Nền kinh tế là tiêu thụ dẫn đầu, thay vì đầu tư dẫn đầu. Về phía cung, động lực chính của sự suy giảm tăng trưởng là sự sụp đổ việc tăng trưởng của các cổ phiếu vốn, như tăng trưởng đầu tư giảm. (Xem sơ đồ).

2bQuan điểm cho rằng sự sụt giảm tăng trưởng như vậy sắp xảy ra là khá hợp lý. Nhưng người ta có thể thúc đẩy một cái nhìn lạc quan hơn. Theo dữ liệu của Conference Board, GDP bình quân đầu người của Trung Quốc (sức mua tương đương) là tương tự như của Nhật Bản vào năm 1966 và của Hàn Quốc vào năm 1988. Sau đó, các quốc gia này, tương ứng, đã có từ bảy đến chín năm tăng trưởng cực nhanh về phía trước. So với những mức độ của Hoa Kỳ (một phép đo lường khác dựa trên tiềm năng bắt kịp), Trung Quốc là nơi mà Nhật Bản đã là vào năm 1950 và Hàn Quốc vào năm 1982. Điều đó cho thấy tiềm năng tăng trưởng chưa nhiều. GDP bình quân đầu người của Trung Quốc chỉ hơn một phần năm mức bình quân đầu người của Mỹ. Nó dường như còn quá xa để bắt kịp.

Tuy nhiên, cũng có một tình huống tương phản với quan điểm lạc quan này. Trung Quốc có một thứ bậc quan trọng lớn hơn cả Nhật Bản. Các cơ hội của nó, đặc biệt là trong nền kinh tế thế giới, phải tương đối nhỏ hơn. Hơn nữa, như cựu Thủ tướng Ôn Gia Bảo thường tuyên bố, tốc độ tăng trưởng đã "không cân bằng, rời rạc và không bền vững". Điều này là sự thật, trên một số phương diện. Nhưng quan trọng nhất là sự phụ thuộc vào đầu tư, không chỉ là một nguồn năng lực thêm vào, mà là một nguồn nhu cầu. Tỷ lệ đầu tư luôn gia tăng là không bền vững, vì lợi nhuận cuối cùng phụ thuộc vào tiêu thụ thêm vào.

Đây là nơi mà một cái nhìn bi quan hơn xuất hiện. Theo kinh nghiệm của Nhật Bản đã cho thấy, quản lý một sự thay đổi từ một nền kinh tế đầu tư cao, tăng trưởng cao đến một nền kinh tế đầu tư thấp, tăng trưởng thấp hơn là rất phức tạp. Tôi có thể dự tính có ít nhất là ba mối nguy cơ.

Thứ nhất, nếu dự kiến ​ tăng trưởng rơi từ hơn 10% xuống còn 6%, tỷ lệ cần thiết cho việc đầu tư vốn sản xuất sẽ sụp đổ : dưới một sự gia tăng liên tục tỷ lệ công suất vốn, sự sụp đổ sẽ là từ 50% xuống còn 30% GDP. Nếu nhanh chóng, một sự suy giảm như vậy sẽ gây ra một cuộc suy thoái, trên tất cả mọi lãnh vực.

Thứ hai, một bước nhảy lớn trong tín dụng đi cùng với sự phụ thuộc vào bất động sản và các khoản đầu tư khác với lợi nhuận cận biên giảm. Một phần cho lý do này, sự suy giảm tăng trưởng có thể có nghĩa là sự gia tăng các khoản nợ xấu, nhất là vào các khoản đầu tư được thực hiện trên giả định rằng sự tăng trưởng ở quá khứ sẽ được tiếp tục. Sự mong manh của hệ thống tài chính có thể ngày càng rỏ ràng, nhất là trong việc nhanh chóng mở rộng khu vực "ngân hàng chợ đen".

Thứ ba, kể từ khi có rất ít lý do để mong đợi một sự suy giảm ở trong tỷ lệ tiết kiệm của các hộ gia đình, việc duy trì sự gia tăng dự kiến ​​trên lãnh vực tiêu thụ, liên quan đến đầu tư, đòi hỏi một sự thay đổi phù hợp trong thu nhập đối với các hộ gia đình và đi từ các tập đoàn, bao gồm cả các doanh nghiệp nhà nước. Điều này có thể xảy ra : tình trạng thiếu lao động đang gia tăng và chuyển hướng đến lãi suất cao hơn có thể tạo ra điều đó một cách êm ả. Tuy nhiên, ngay cả như vậy, cũng có một nguy cơ rõ ràng rằng sự suy giảm lợi nhuận sẽ đẩy nhanh sự sụp đổ trong lãnh vực đầu tư.

Kế hoạch của chính phủ là, tất nhiên, thực hiện chuyển đổi sang một nền kinh tế cân bằng tốt hơn và chậm phát triển một cách trôi chảy. Điều này chẵng phải là không thể. Chính phủ có tất cả các đòn bẩy cần thiết. Hơn nữa, nền kinh tế tiếp tục có nhiều tiềm năng. Tuy nhiên, quản lý sự suy giảm tốc độ tăng trưởng mà không có một sự sụp đổ đầu tư và sự gián đoạn tài chính thì còn nan giải hơn so với bất kỳ mô hình cân bằng tổng thể nào được đề xuất.

Rất dễ dàng để nghĩ về những nền kinh tế có hiệu suất bậc nhất đã nhìn thấy từ lâu nhưng đã thất bại trong việc quản lý sự suy giảm không thể tránh khỏi. Nhật Bản là một ví dụ. Trung Quốc có thể tránh được số phận đó, một phần vì nó vẫn có tiềm năng tăng trưởng rất nhiều. Tuy nhiên, nguy cơ tai nạn cao. Tôi không mong chờ một điều gì đó ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc nói chung. Tuy nhiên, trong thập kỷ tới có thể là gập ghềnh hơn nhiều so với thời gian trước.
 

Martin Wolf .
Martin Wolf

Martin Wolf là phó tổng biên tập và là nhà bình luận kinh tế bậc nhất của Financial Times.

Trang Chủ