Chiến lược an ninh hàng hải CHÂU Á THÁI BÌNH DƯƠNG.

Bộ Quốc phòng (Mỹ) có ba mục tiêu hàng hải trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương: bảo vệ tự do trên biển; ngăn ngừa xung đột và cưỡng chế; và thúc đẩy tuân thủ pháp luật và các tiêu chuẩn quốc tế.
Bộ Quốc phòng (Mỹ) có ba mục tiêu hàng hải trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương:
 bảo vệ tự do trên biển; ngăn ngừa xung đột và cưỡng chế; và thúc đẩy 
tuân thủ pháp luật và các tiêu chuẩn quốc tế.
Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ

Chiến lược an ninh hàng hải CHÂU Á THÁI BÌNH DƯƠNG :
Thủ đắc những mục tiêu An ninh Quốc gia Hoa Kỳ trong một môi trường thay đổi.


PHẦN I.

Trần Lê lược dịch.

Phù hợp với đạo luật phòng vệ quốc gia trong năm tài chính 2015 mục 1259 của Carl Levin và Howard P. "Buck" McKeon , Công Pháp 113-291, báo cáo này vạch ra chiến lược của Bộ Quốc phòng liên quan đến an ninh hàng hải trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Nhận thức được tầm quan trọng của khu vực châu Á-Thái Bình Dương và lĩnh vực hàng hải đối với an ninh của Hoa Kỳ, Bộ đang tập trung vào việc bảo vệ tự do trên các vùng biển, ngăn chặn xung đột, tình trạng áp bức, và thúc đẩy việc tuân thủ pháp luật và các tiêu chuẩn quốc tế. Như đã làm khắp thế giới, Bộ sẽ tiếp tục bay ngang, chạy thuyền qua, và hoạt động bất cứ nơi nào luật pháp quốc tế cho phép, hỗ trợ những mục tiêu này và lập trật tự giữ gìn hòa bình và an ninh khu vực châu Á-Thái Bình Dương như đã được hưởng trong 70 năm qua.


Nhận thức được sự phức tạp ngày càng tăng ở lĩnh vực hàng hải châu Á-Thái Bình Dương, báo cáo này liệt kê bốn quy tắc trong nỗ lực của Bộ được xử dụng để bảo đảm an ninh trong khu vực quan trọng này. Đầu tiên, chúng tôi đang tăng cường năng lực quân sự của chúng tôi để bảo đảm Hoa Kỳ có thể ngăn ngừa thành công những xung đột và tình trạng áp bức và đáp trả dứt khoát khi cần thiết. Thứ hai, chúng tôi đang làm việc cùng với các đồng minh và đối tác của chúng tôi từ Đông Bắc Á đến Ấn Độ Dương để xây dựng năng lực của họ nhằm giải quyết những thách thức tiềm tàng trong các vùng biển và xuyên suốt khu vực. Thứ ba, chúng tôi cũng đang lợi dụng ngoại giao quân sự để xây dựng sự minh bạch hơn, giảm nguy cơ tính toán sai lầm hoặc xung đột và thúc đẩy chia xẻ những quy tắc của lộ trình hàng hải. Cuối cùng, chúng tôi đang làm việc để tăng cường thể chế an ninh khu vực và khuyến khích phát triển một cấu trúc an ninh khu vực "mở" và hiệu quả. Cùng với các đồng nghiệp trong cơ quan của chúng tôi, các đồng minh và các đối tác trong khu vực, Bộ đã tập trung vào việc bảo đảm rằng hàng hải châu Á vẫn luôn "mở", tự do và an toàn trong những thập kỷ tới.

GIỚI THIỆU

Hoa Kỳ có những lợi ích kinh tế và an ninh lâu dài ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Và bởi vì khu vực - trải dài từ Ấn Độ Dương, thông qua các vùng biển phía Nam và Đông Trung Quốc, và ra Thái Bình Dương - chủ yếu là biển, chúng tôi đầu tư một chi phí bảo hiểm cho việc duy trì hòa bình và an ninh hàng hải.

Với trách nhiệm đó, Bộ Quốc phòng Mỹ có ba mục tiêu hàng hải trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương: bảo vệ tự do trên biển; ngăn ngừa xung đột và cưỡng chế áp bức; và thúc đẩy việc tuân thủ pháp luật và các tiêu chuẩn quốc tế.

Tại sao chúng tôi bảo vệ Tự do cho các vùng biển

Trong suốt lịch sử, Hoa Kỳ đã ủng hộ cho sự tự do của các vùng biển vì những lý do an ninh và kinh tế .

Hàng hải châu Á là một hải lộ quan trọng đối với thương mại toàn cầu, và nó sẽ là một phần quan trọng trong dự kiến tăng trưởng kinh tế của khu vực. Hoa Kỳ muốn bảo đảm sự phát triển kinh tế tiếp tục của khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Sự quan trọng của các tuyến đường biển ở Châu Á-Thái Bình Dương đối với thương mại toàn cầu không thể được cường điệu. Tám trong số 10 cảng container nhộn nhịp nhất trên thế giới nằm trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, và gần 30 phần trăm thương mại hàng hải của thế giới đi qua Biển Đông hàng năm, trong đó có khoảng 1200 tỷ USD trong thương mại bằng tàu thủy gắn bó với Hoa Kỳ. Khoảng hai phần ba lô hàng dầu lửa của thế giới quá cảnh qua Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương, và trong năm 2014, hơn 15 triệu thùng dầu đi qua eo biển Malacca mỗi ngày.

Tự do trên biển, tuy nhiên, bao gồm nhiều vấn đề hơn so với chỉ là sự tự do đơn thuần của các tàu thương mại quá cảnh những đường thủy quốc tế. Trong khi luật quốc tế không có một điều khoản nào quy định, Bộ Quốc phòng Mỹ xử dụng "quyền tự do trên biển "có nghĩa là tất cả các quyền, tự do, và xử dụng hợp pháp vùng biển và vùng trời, kể cả đối với tàu quân sự và máy bay, được công nhận theo luật pháp quốc tế. Tự do trên biển do đó cũng là điều cần thiết để bảo đảm sự tiếp cận trong trường hợp xảy ra một cuộc khủng hoảng. Xung đột và thảm họa có thể đe dọa lợi ích của Mỹ và lợi ích của các đồng minh khu vực và các đối tác của chúng tôi. Bộ Quốc phòng do đó cam kết bảo đảm tiếp cận hàng hải "mở", tự do để bảo vệ sự ổn định trật tự kinh tế mà đã phục vụ cho tất cả các quốc gia châu Á-Thái Bình Dương quá tốt trong quá lâu, và để duy trì khả năng của các lực lượng Mỹ đáp trả khi cần thiết.

Tại sao chúng tôi ngăn ngừa Xung đột và tình trạng Cưỡng chế

Qua 70 năm, việc hiện diện quân sự của Mỹ tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã đóng một vai trò quan trọng trong sự củng cố hòa bình khu vực, sự ổn định và an ninh. Sự hiện diện này đã kích hoạt sự thịnh vượng to lớn và tăng trưởng kinh tế trong khu vực và tạo điều kiện cho dòng chảy các nguồn tài nguyên và thương mại trên tuyến đường thủy quan trọng ở châu Á không bị cản trở. Đó là vì lợi ích của tất cả các quốc gia, không chỉ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, điều mà Hoa Kỳ tiếp tục ngăn chặn và ngăn chặn xung đột ở khu vực quan trọng này.

Khi môi trường an ninh hàng hải tiếp tục phát triển, nhiệm vụ này đang trở thành thách thức nhiều hơn. Nhưng không nên nghi ngờ điều Hoa Kỳ sẽ duy trì sự hiện diện quân sự cần thiết và khả năng để bảo vệ lợi ích của chúng tôi và lợi ích của các đồng minh và đối tác của chúng tôi chống lại các mối đe dọa tiềm năng trong lĩnh vực hàng hải.

Tại sao chúng tôi thúc đẩy việc tuân thủ luật pháp và tiêu chuẩn quốc tế.

Sự tuân thủ một hệ thống dựa trên luật lệ đã từng là quan trọng để đẩy mạnh hòa bình, ổn định và thịnh vượng ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Hệ thống này cung cấp cơ sở cho việc xử dụng chung những lộ trình hàng hải, các nguồn tài nguyên, và bảo đảm an toàn cho các hoạt động trong lĩnh vực hàng hải. Đây là lý do tại sao Hoa Kỳ hoạt động phù hợp với - mặc dù Thượng viện Mỹ vẫn chưa đưa ra ý kiến và sự đồng ý của nó - Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (Luật Công ước Biển), trong đó phản ảnh tập quán luật pháp quốc tế liên quan đến truyền thống xử dụng đại dương.

Bộ Quốc phòng, kết hợp với các đối tác liên ngành, các tổ chức khu vực, các đồng minh và đối tác trong khu vực, đang làm việc để bảo đảm rằng các quy tắc của pháp luật - không ép buộc và xử dụng vũ lực - sai khiến tương lai hàng hải châu Á.

BỐI CẢNH CHIẾN LƯỢC

Trong nhiều thập kỷ, khu vực châu Á - Thái bình dương vẫn thoát được những cuộc xung đột nghiêm trọng, cho phép các quốc gia thụ hưởng những lợi ích trong lĩnh vực hàng hải.
Trong nhiều thập kỷ, khu vực châu Á - Thái bình dương
 vẫn thoát được những cuộc xung đột nghiêm trọng,
cho phép các quốc gia thụ hưởng những lợi ích
 trong lĩnh vực hàng hải.


Tuy nhiên, môi trường an ninh đang thay đổi, có khả năng thách thức sự ổn định liên tục của khu vực. Nhanh chóng hiện đại hóa kinh tế và quân sự, kết hợp với tăng trưởng các nhu cầu tài nguyên, đã làm trầm trọng thêm nguy cơ xung đột qua những tranh chấp lãnh thổ đã tồn tại từ lâu. Ngoài ra, các mối đe dọa phi truyền thống như sự phát triển vũ khí, mua bán trái phép con người và các thứ bất hợp pháp khác, vi phạm bản quyền, và thiên tai tiếp tục đặt ra những thách thức an ninh quan trọng. Mặt khác, chúng tôi cũng thấy một số xu hướng tích cực trong những năm gần đây, bao gồm các giải pháp hòa bình ở một số tranh chấp hàng hải trong khu vực.

Cạnh tranh lãnh thổ và những yêu sách hàng hải.

Có rất nhiều, những tranh chấp hàng hải và tranh chấp lãnh thổ phức tạp trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Sự hiện diện của các giá trị trữ lượng cá và sự tồn tại tiềm năng tài nguyên hydrocarbon rộng lớn ở biển đông Trung Quốc và Biển Đông ( biển Đông Nam TQ ) làm trầm trọng thêm những yêu sách phức tạp này. Một báo cáo của Liên Hợp Quốc ước tính rằng chỉ một mình Biển Đông chiếm hơn 10 phần trăm sản lượng thủy sản toàn cầu. Mặc dù các số liệu thay đổi về thực chất, Cục Quản lý Thông tin Năng lượng ước tính có khoảng 11 tỷ thùng dầu và 190 nghìn tỷ feet khối dầu đã được chứng minh và có thể có, và trữ lượng khí đốt tự nhiên ở Biển Đông và bất cứ nơi nào từ một đến hai ngàn tỷ feet khối trữ lượng khí đốt tự nhiên, và 200 triệu thùng dầu ở biển đông Trung Quốc. Các bên yêu sách thường xuyên xung đột về quyền đánh bắt cá, và những nỗ lực trước đây tại các thỏa thuận phát triển chung đã chùn bước trong những năm gần đây.

Mặc dù Hoa Kỳ sẽ không có quan điểm trên những cạnh tranh tuyên bố chủ quyền với các tính năng đất ở khu vực, tất cả các yêu sách đó phải được dựa trên đất ( điều mà trong trường hợp của đảo có nghĩa là những vùng đất được hình thành tự nhiên, ở trên mặt nước khi thủy triều cao ), và tất cả các khiếu nại hàng hải phải xuất phát từ đất như vậy trong điều kiện phù hợp với luật pháp quốc tế, như đã được phản ảnh trong Công ước Luật Biển.

Hoa Kỳ có một sự quan tâm mạnh mẽ trong việc bảo đảm tất cả các yêu sách tìm cách giải quyết và giải quyết vấn đề của họ một cách hòa bình, không có xung đột hay cưởng bức. Chúng tôi cũng khuyến khích và hỗ trợ các nỗ lực của các quốc gia yêu sách theo đuổi những nổ lực ngoại giao và các nổ lực hòa bình khác để giải quyết các vấn đề chủ quyền.

Ở biển đông Trung Quốc, chúng tôi tiếp tục thừa nhận sự quản lý của Nhật Bản trên quần đảo Senkaku và phản đối bất kỳ hành động đơn phương nào tìm cách phá hoại nó. Ở Biển Đông, chúng tôi kêu gọi tất cả các bên theo đuổi các biện pháp hòa bình trong giải quyết tranh chấp của họ, trong đó bao gồm ngoại giao cũng như giải quyết tranh chấp của bên thứ ba, chẳng hạn như đệ trình của Philippines về các yêu sách của họ cho trọng tài theo các thủ tục giải quyết tranh chấp trong Công ước Luật Biển. Chúng tôi cũng kêu gọi tất cả các bên phải có hành động để thực hiện Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DoC) và tiến hành các bước hướng tới kết luận sơ khởi một bộ quy tắc ứng xử có ý nghĩa (CoC), trong đó sẽ cung cấp thoả thuận theo những nguyên tắc của lộ trình giảm căng thẳng giữa các nước yêu sách.

Biển Đông

Những tranh chấp lãnh thổ và hàng hải ở Biển Đông xoay quanh ba vấn đề chính:

  • (1) yêu sách cạnh tranh lãnh thổ giữa các bên tranh chấp,

  • (2) yêu sách cạnh tranh hàng hải giữa các bên tranh chấp,

  • và (3) yêu sách hàng hải quá mức khẳng định bởi một số bên tranh chấp.


Về yêu sách cạnh tranh lãnh thổ, có sáu bên yêu sách các tính năng đất ở Biển Đông: Brunei, Trung Quốc, Malaysia, Philippines, Đài Loan, và Việt Nam.

Có ba tranh chấp chủ quyền lãnh thổ chính. Thứ nhất là tranh chấp giữa Trung Quốc, Đài Loan, và Việt Nam về chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc đã chiếm đóng từ năm 1974. Thứ hai là cuộc tranh cải trên Scarborough Reef giửa Trung Quốc - Đài Loan - Philippines. Thứ ba là tranh chấp giửa nhiều bên đối với quần đảo Trường Sa, trong đó bao gồm hơn 200 tính năng địa lý. Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam tuyên bố chủ quyền trên tất cả các tính năng đất ở Trường Sa, trong khi Brunei, Malaysia, và Philippines chỉ tuyên bố chủ quyền những tính năng đất trong một nhóm đảo. Việt Nam và Malaysia vẫn chưa phân định đầy đủ các yêu sách hàng hải của họ ở Biển Đông.

Về những yêu sách cạnh tranh hàng hải, các bên yêu sách khẳng định một sự kết hợp của chủ quyền, quyền chủ quyền có liên quan đến tài nguyên và yêu sách pháp lý cho các khu vực hàng hải nằm trong Biển Đông. Một số các bên tranh chấp này đã làm rõ bản chất và bề rộng các yêu sách hàng hải của họ, nhưng những nước khác không có. Ví dụ, mặc dù Indonesia tuyên bố khu đặc quyền kinh tế (EEZ) mở rộng vào Biển Đông, chính phủ Indonesia hiện không công nhận cái gọi là "Đường chín đoạn" của Trung Quốc ( chồng lấn với EEZ đó) và do đó không xem xét bản thân như một bên yêu sách trong bất kỳ tranh chấp hàng hải có liên quan đến Biển Đông .

Về yêu sách hàng hải quá mức, một số nước yêu sách trong khu vực đã khẳng định những yêu sách hàng hải dọc theo bờ biển và chung quanh các tính năng đất của họ mà không phù hợp với luật pháp quốc tế. Ví dụ, Malaysia cố gắng hạn chế các hoạt động quân sự nước ngoài trong Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ), và Việt Nam cố gắng yêu cầu sự thông báo của các tàu chiến nước ngoài trước khi thực hiện quyền đi qua vô hại trên lãnh hải của nó. Một số quốc gia đã vẽ đường cơ sở bờ biển ( đường mà từ đó bề rộng các quyền hàng hải được phép tính ) không phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm cả Việt Nam và Trung Quốc; và Hoa Kỳ cũng có mối quan tâm lớn đối với Luật của Đài Loan về lãnh hải và các điều khoản của vùng Tiếp giáp trên đường cơ sở và đi qua vô hại trong lãnh hải. Mặc dù chúng tôi hoan nghênh những nỗ lực của Philippines và Việt Nam làm cho các yêu sách hàng hải của mình phù hợp với Luật Công ước biển, công việc vẫn còn nhiều điều phải làm. Phù hợp với chính sách hải hành tự do lâu đời của Mỹ, Hoa Kỳ khuyến khích tất cả các bên tranh chấp thích ứng các yêu sách hàng hải của mình phù hợp với luật pháp quốc tế và thích ứng những thách thức yêu sách hàng hải quá mức thông qua những kháng nghị ngoại giao của Mỹ và những hoạt động sẳn sàng.

Trung Quốc đã không xác định rõ phạm vi các yêu sách hàng hải của mình ở Biển Đông. Trong tháng 5 năm 2009, Trung Quốc chuyển đạt hai Công hàm cho Tổng thư ký LHQ nêu rõ sự phản đối các đệ trình của Việt Nam và Malaysia (chung) và Việt Nam (riêng) với Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa. Các bức công hàm, nằm trong số những thứ khác, bao gồm một bản đồ mô tả chín đoạn thẳng (dấu gạch ngang) bao quanh vùng biển, đảo và các tính năng khác trong biển Đông, và bao gồm khoảng hai triệu cây số vuông của không gian biển. Công hàm 2009 cũng bao gồm sự khẳng định của Trung Quốc rằng họ có "chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo trong Biển Đông và các vùng biển lân cận và được hưởng các quyền chủ quyền và quyền tài phán trên các vùng biển liên quan cũng như vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển". Hành động và lời nói của Trung Quốc đã để lại bản chất đặc biệt không rõ ràng trên yêu sách hàng hải của nó, bao gồm cả sự mơ hồ về việc Trung Quốc tuyên bố tất cả các vùng biển nằm bên trong đường chín đoạn cũng như tất cả các tính năng đất nằm trong đó.

Biển Đông Trung Quốc

Kể từ năm 1972 việc thu hồi đảo Okinawa và các đảo Ryukyu khác từ Hoa Kỳ, Nhật Bản đã điều hành Quần đảo Senkaku. Vào tháng Tư năm 2012, Thống đốc Tokyo công bố kế hoạch mua ba trong số năm đảo nhỏ từ những chủ sở hữu tư nhân người Nhật Bản, khiến Chính phủ Nhật Bản mua ba hòn đảo vào tháng 9 năm 2012 trong một cố gắng để ngăn chặn việc dấy lên một cuộc khủng hoảng. Tuy nhiên, Trung Quốc đã giải thích hành động như là một nỗ lực để thay đổi hiện trạng và phản đối việc chuyển đổi, nhen nhóm lại những căng thẳng giữa các nước láng giềng.

Về việc phân định ranh giới hàng hải ở Biển Đông Trung Quốc, Trung Quốc đã lên tiếng yêu sách mở rộng thềm lục địa qua đó mở rộng ra ngoài các trung điểm giữa Trung Quốc và Nhật Bản (tức là, trong một diện tích hơn 200 hải lý từ Trung Quốc, nhưng bên trong phạm vi 200 hải lý của Nhật Bản). Các ranh giới hàng hải chưa được giải quyết tiếp tục tạo căng thẳng qua việc tiếp cận các nguồn tài nguyên cá và hydrocarbon trong khu vực đó.

Thông qua sự hiện diện thực thi pháp luật và quân đội liên tục và công bố trong tháng 11 năm 2013 một Vùng Nhận diện Phòng Không mới (ADIZ) trên biển Đông Trung Quốc, mà Hoa Kỳ không công nhận, Trung Quốc tiếp tục tham gia vào các hành động mà dường như được thiết kế để thách thức chính phủ Nhật Bản trên quần đảo Senkaku. Trung quốc đã gửi các tàu Thực Thi hành Luật Hàng Hải (MLE) (và ít thường xuyên hơn, máy bay) một cách thường xuyên để tuần tra gần Quần đảo Senkaku, bao gồm cả trong vòng 12 hải lý tính từ các đảo. Nhật Bản đã phản ứng, tăng cường tuần tra bằng Tuần duyên Nhật Bản để hỗ trợ quản lý các đảo.

Như Tổng thống Obama nêu ở Tokyo năm ngoái và nhắc lại vào đầu năm nay trong chuyến thăm của Thủ tướng Abe, "cam kết hiệp ước quốc tế của chúng ta với an ninh của Nhật Bản là tuyệt đối, và Điều 5 bao gồm tất cả các vùng lãnh thổ thuộc quyền quản lý của Nhật Bản, bao gồm cả quần đảo Senkaku " - một điểm mà các bộ trưởng Carter và Kerry cũng tái khẳng định với các đối tác Nhật Bản vào thứ Hai 27 tháng 4, 2015, trong cuộc họp "2 + 2" tại New York. Chúng tôi sẽ tiếp tục phản đối bất kỳ hành động đơn phương nào tìm cách làm suy yếu chính quyền Nhật Bản.

Ấn Độ Dương

Ngược hẳn với Biển Đông và biển đông Trung Quốc, khu vực Ấn Độ Dương vẫn tương đối tránh được những căng thẳng do tranh chấp lãnh thổ và hàng hải trong những năm gần đây. Mặc dù có một vài tranh chấp hàng hải trong khu vực, chúng tương đối ổn định hoặc đã được giải quyết thông qua tòa án và trọng tài quốc tế.

Ấn Độ đã tham gia vào hai tranh chấp hàng hải với các nước láng giềng : Pakistan và Bangladesh. Tranh chấp biên giới hàng hải quan trọng của Ấn Độ vẫn còn tồn tại chính là với Pakistan, bắt nguồn từ sự bất đồng về nơi mà đất ranh giới chạm bờ biển như New Delhi và Islamabad duy trì các yêu sách khác nhau trên Sir Creek. Pakistan tuyên bố toàn bộ vùng lạch với ranh giới được vẽ dọc theo bờ phía đông, trong khi Ấn Độ tin rằng ranh giới cần được rút ra tại điểm giữa kênh, như phân định trong một bản đồ năm 1925. Mặc dù các tranh chấp đang diễn ra, những căng thẳng giữa hai nước về ranh giới Sir Creek và ranh giới hàng hải quá mức đã thấp hơn nhiều so với những nơi tranh chấp ranh giới khác trên đất của họ.

Ấn Độ và Bangladesh cũng có những yêu sách cạnh tranh trên một phần của Vịnh Bengal. Tuy nhiên, trong năm 2009, cả hai quốc gia đồng ý nộp những yêu sách mâu thuẫn của họ cho trọng tài quốc tế. Các phán quyết của trọng tài hồi Tháng Bảy 2014 phần lớn ưa chuộng quan điểm của Dhaka, trao quyền chủ quyền cho Bangladesh khoảng 7.500 dặm vuông, hoặc khoảng ba phần tư vùng biển của Vịnh Bengal, do đó cho Bangladesh quyền để khám phá các mỏ dầu và khí đốt phong phú mà trước đó đã được nắm giử bởi Ấn Độ. Cả Ấn Độ và Bangladesh công khai ủng hộ các trọng tài. Trong một tuyên bố chung với Dhaka, New Delhi đã cam kết tuân thủ các phán quyết, bày tỏ sự hài lòng rằng việc giải quyết ranh giới hàng hải giúp tăng cường thiện chí và sự hiểu biết lẫn nhau, mang đến việc khép lại các vấn đề biên giới trên biển, và mở đường cho hợp tác trong khai thác bền vững các nguồn tài nguyên hàng hải của Vịnh Bengal.

Hiện đại hóa quân sự và Thực thi Luật hàng hải (MLE)

Hiện đại hóa quân sự nhanh chóng trên toàn khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã gia tăng đáng kể khả năng tính toán sai lầm nguy hiểm hoặc xung đột trong lĩnh vực hàng hải. Nhiều quốc gia cũng đã tăng cường đáng kể khả năng thực thi luật hàng hải của họ (MLE) . Những tài sản này đã trở nên ngày càng thích đáng khi các nước, đặc biệt là Trung Quốc, xử dụng chúng để khẳng định chủ quyền đối với khu vực tranh chấp.

Trung Quốc đang hiện đại hóa mọi khía cạnh quân sự liên quan đến hàng hải và khả năng thực thi luật, bao gồm đội tàu hải quân trên mặt nước, tàu ngầm, máy bay, tên lửa, khả năng radar, và bảo vệ bờ biển. Nó đang phát triển công nghệ cao nhằm ngăn cản sự can thiệp của bên ngoài trong một cuộc xung đột và được thiết kế để chống lại công nghệ quân sự của Mỹ. Mặc dầu chuẩn bị cho một cuộc xung đột tiềm năng ở Đài Loan vẫn là động lực chính cho những đầu tư của Trung Quốc, Trung Quốc cũng đang đặt sự nhấn mạnh vào việc chuẩn bị cho những dự phòng ở Biển Đông và biển Đông Trung quốc. Trung Quốc xem nhu cầu cho Hải quân nhân dân Trung Quốc (PLAN) để có thể hỗ trợ "nhiệm vụ lịch sử mới" của Trung Quốc và nhiệm vụ hoạt động bên ngoài chuỗi đảo đầu tiên với đa nhiệm vụ, tầm xa, nền tảng hải quân bền vững được trang bị với những khả năng tự vệ mạnh mẽ. Mặc dù số lượng chỉ là một phần của tổng năng lực , từ 2013 đến 2014, Trung Quốc đã hạ thủy tàu hải quân nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào khác. PLAN hiện sở hữu số lượng tàu thuyền lớn nhất tại châu Á, với hơn 300 tàu trên mặt nước, tàu ngầm, tàu đổ bộ và tàu tuần tra.

Trung Quốc cũng đang thực hiện những nỗ lực hiện đại hóa MLE lớn nhất ở châu Á, gia tăng chất lượng và cải tiến số lượng hạm đội của nó, được thiết kế để thực thi các yêu sách hàng hải của nó ở Biển Đông và biển đông Trung quốc. Hạm đội Thực thi luật hàng hải của Trung Quốc, gồm chủ yếu là tàu Bảo vệ bờ biển Trung quốc mới được thành lập, có khả năng gia tăng kích thước bằng 25 phần trăm và là lớn hơn so với tất cả các bên tranh chấp khác cộng lại.

Các quốc gia khác ở châu Á-Thái Bình Dương cũng đang tăng cường khả năng hàng hải của họ. Nhật Bản đang cải thiện khả năng răn đe của Lực lượng Phòng vệ Nhật bản và sắp xếp lại các tài sản quân sự và tài sản MLE đến các khu vực gần quần đảo Senkaku, mà cũng được tuyên bố chủ quyền bởi Trung Quốc. Nhật Bản lên kế hoạch mua và tổ chức lại các tài sản Tình báo, Giám sát, và trinh sát (ISR) cho khu vực; nâng cấp máy bay tuần tra hàng hải tuần tra, lực lượng radar mặt đất, các đơn vị tên lửa; và phát triển một khả năng tấn công đổ bộ trong một lực lượng đặc nhiệm chung JSDF. Nội các Nhật Bản đã thông qua một sự gia tăng khiêm tốn cho Ngân sách Bảo vệ bờ biển, một phần để tài trợ cho một đơn vị tuần tra quần đảo Senkaku vĩnh viễn.

Ở Đông Nam Á, Việt Nam đang theo đuổi một chương trình hiện đại hóa hải đầy tham vọng, được nêu bật qua việc đang tiến hành mua lại sáu tàu ngầm lớp Kilo do Nga xây dựng, tàu khu trục và tàu hộ tống, và sự mua sắm tiềm năng trong dài hạn những tên lửa hành trình bảo vệ bờ biển. Trong năm 2014, Nhật Bản công bố sẽ cung cấp cho Việt Nam sáu tàu giám sát bảo vệ bờ biển đã qua sử dụng, và Hà Nội đang mở rộng sức mạnh lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam để thực thi luật hàng hải. Philippines cũng đang hiện đại hóa lực lượng hàng hải, một số tàu thời Thế chiến II của Mỹ, bao gồm hai thuyền buồm bảo vệ bờ biển mua lại vào năm 2011 và 2013.

Những thách thức hàng hải

Mặc dù nhiều bên tranh chấp đang xử dụng khả năng thực thi pháp luật hàng hải và quân sự của họ trong một cách có trách nhiệm,những hành động khiêu khích gần đây đã tăng căng thẳng trong khu vực và làm nổi lên những lo ngại. Những hành động như là việc xử dụng các tàu MLE để ép buộc các đối thủ tranh chấp, những hành vi không an toàn ở hàng hải và trên bầu trời , cải tạo đất để mở rộng các tính năng tranh chấp và tạo ra các hòn đảo nhân tạo cản trở những nỗ lực quản lý và giải quyết các tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải một cách hòa bình.

( Còn tiếp ).