Tư tưởng sai lầm của Henry Kissinger

Tác giả Ngụy Kim Sinh.



Trần H Sa lược dịch từ bản Anh ngữ

Là một nhà hoạt động chính trị tầm quốc tế, các ý tưởng của Henry Kissinger chủ yếu là những mối quan hệ quốc tế. Gần đây, một nghiên cứu sinh của Đại học Harvard, ông Yang Peng từ Trung Quốc, đã đưa ra một số nhận xét về quan điểm của Kissinger xem ra khá thích hợp. Nhưng sự xem xét đã không đủ sâu, và dường như đã có một số khoan dung. Để là một học giả thỉnh giảng trong vùng đất của Kissinger, thật là dễ hiểu khi Yang Peng đã nhẹ nhàng và hạn chế trong việc nói về Kissinger. Vì vậy, hãy để tôi đưa ra một số lời chỉ trích sâu sắc về tư tưởng của Henry Kissinger mà sẽ là rất quan trọng đối với cả Trung Quốc lẫn Hoa kỳ.

Trong cuốn sách ("trật tự thế giới"), xuất bản gần đây, Henry Kissinger đã giải thích tầm nhìn của mình từ kinh nghiệm ngoại giao và ý nghĩ được tích lũy trong nhiều thập kỷ qua. Tầm nhìn đó thực sự ở cùng lối mòn, hay nói rỏ ra được tạo thành từ cùng khuôn mẫu, như "giá trị châu Á" của Giang Trạch Dân (của Trung Quốc) và Lý Quang Diệu (của Singapore). Cả hai giả định rằng tư tưởng ngoại giao hoặc tư tưởng giửa người dân phương Tây và người dân Trung Quốc theo truyền thống là không giống nhau.

Lý thuyết mà nói rằng, người phương Tây xử dụng tư duy pháp lý, ví dụ như duy trì mối quan hệ giữa các quốc gia theo pháp luật, có từ Hòa ước Westphalia vào thế kỷ XVII. Người dân Trung Quốc thường suy nghĩ theo luật rừng, chỉ thừa nhận mối quan hệ giữa quốc gia có chủ quyền tối cao và những quốc gia chư hầu. Theo cách truyền đạt với ngữ pháp tương đối uyển chuyển của Kissinger, luật rừng được cho là tư tưởng trong các giai đoạn phát triển lịch sử. Tóm lại, các nguyên tắc của phương Đông và phương Tây thì khác nhau, đó là một khái niệm đặc biệt của các giá trị châu Á.

Trên phương diện lịch sử nó có thật sự đúng như vậy không ? Ông Yang Peng lịch sự đưa ra một ví dụ về điều ngược lại. Ở Trung Quốc trong thế kỷ thứ sáu trước Công nguyên, đã có những "Hội nghị lớn để kết thúc các cuộc chiến tranh", sau cuộc chiến giửa nhà Tần và nhà Chu. "Hội nghị lớn để kết thúc các cuộc chiến tranh" (bao gồm hơn một chục quốc gia và) là hiệp ước hòa bình tầm quốc tế đầu tiên trên thế giới. Nó đã duy trì hơn một trăm năm hòa bình, trong một tổng diện tích lớn hơn nhiều so với các khu vực nói tiếng Đức. Nó có trước hơn hai ngàn năm so với hiệp ước hòa bình Westphalia mà Kissinger đã rất tự hào.

Có đúng là trong hơn hai ngàn năm sau "Hội nghị lớn" này, Trung Quốc chỉ có mối quan hệ giữa quốc gia có chủ quyền tối cao và các quốc gia chư hầu, như tuyên bố của Kissinger ? Tôi phải nói rằng ông Kissinger không đọc sách và đưa ra những bình luận mù do không biết lịch sử. Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa Trung Quốc và các nước chư hầu của nó, các mối quan hệ hiệp ước giữa Trung Quốc và các nước láng giềng của nó vẫn tiếp tục tồn tại trong hơn hai ngàn năm. Người Trung Quốc, được giáo dục bởi Đảng Cộng sản Trung Quốc ghi nhớ những hiệp ước hòa bình nổi tiếng giữa triều đại nhà Đường và Tây Tạng, được chạm khắc vào 3 khối đá công khai dựng lên tại ba địa điểm gồm thủ đô Trung Quốc thời nhà Đường ở Trường An và thủ đô Lhasa của Tây Tạng . Hiệp ước trên đá tại Lhasa (Lhasa Doring) đã tồn tại cho đến ngày nay, và đã từng có giá trị cho công chúng được tự do xem mọi lúc, không hạn chế. Công chúng có thể xem hiệp ước của các bạn phương Tây được viết trên giấy da một cách tự do không nào ?

Bây giờ chúng ta hãy nhìn vào lịch sử tư tưởng châu Âu theo Henry Kissinger một lần nữa. Chúng ta hảy đừng nói về hòa bình tương đối được duy trì bởi các nhà chức trách tôn giáo vào thời kỳ Trung Cổ. Châu Âu có được hòa bình sau Hòa ước Westphalia hay không ? Những cuộc chiến tranh bên trong nước Đức đã dừng. Tuy nhiên, luật rừng vẫn còn hiệu lực giữa các quốc gia khác. Đã có nhiều cuộc chiến tranh nổ ra giữa Đức và các nước khác. Ngay cả hai cuộc chiến tranh thế giới trong thế kỷ qua cũng đã được khởi xướng bởi người Đức. Đâu là tư tưởng của hiệp ước nào đó dựa trên luật pháp ? Cái tốt nhất cũng ngang bằng với Trung Quốc. Bản chất con người là như nhau. Không có điều gì được gọi là "các giá trị đặc biệt."

Việc đầu tiên ảnh hưởng đến hòa bình giữa các dân tộc là sự phát triển lịch sử. Bị ảnh hưởng bởi những thăng trầm trong nước và, cán cân quyền lực giữa các quốc gia bị phá vỡ. Các quốc gia mạnh hơn sẽ có động lực để vi phạm hòa bình, phần lớn đó là lý do chiến tranh. Hòa ước Westphalia ra đời vì mọi người đã kiệt sức từ các cuộc chiến tranh, và với các quốc gia gây hấn ở trong tình trạng suy thoái kinh tế, họ đã phải rút về những động cơ gây hấn. Pháp luật và các hiệp ước chỉ là những cái cớ.

Lý do mà "Hội nghị lớn để kết thúc các cuộc chiến tranh" đã thành công ở Trung Quốc hơn 2.600 năm trước đây là vì tình hình cũng tương tự như những gì trên thế giới từ thế kỷ trước. Giống như ngày hôm nay, nó đã sản xuất ra các lãnh chúa, cái được gọi là "cảnh sát quốc tế" để duy trì trật tự. Nghĩa là, với trọng tài tương đối công bằng và các biện pháp trừng phạt, họ ngăn chặn các cuộc chiến tranh có thể xảy ra bất cứ nơi nào. Cái được gọi là "luật pháp quốc tế" của ngày hôm nay cũng chỉ là như thế. Thay vì xứng đáng với tên gọi, nó phụ thuộc vào sự sẵn sàng của các cơ quan thực thi luật pháp để nhận trách nhiệm. Như một vấn đề của thực tế, Liên Hiệp Quốc chỉ là một vật trang trí, tự thân không có một ý nghĩa thiết thực nào.

Điều này cũng giống như các luật khác chung quanh chúng ta - nếu không có các biện pháp trừng phạt và thực thi luật pháp, thực sự sẽ có một con số không rõ bao nhiêu người sẽ tuân thủ pháp luật. Nếu người phạm tội không bị trừng phạt và thậm chí được trao giải thưởng với các lợi ích, tôi e rằng hầu hết mọi người sẽ không tuân thủ pháp luật. Tình hình hiện nay ở Trung Quốc là một ví dụ. Và hiện nay xã hội quốc tế cũng đang phát triển theo hướng này. Khi những người yếu đuối hớn hở với sự suy giảm của Mỹ, họ đã quên những loại thảm họa mang tính làng sẽ đem đến đau khổ khi bị thiếu mất một cảnh sát trưởng.

Vậy thì sự gia tăng tâm địa xâm lược của các nhà lãnh đạo hiện tại của Trung Quốc đến từ đâu ? Đó chính là đặc điểm chung của tất cả các chế độ độc tài. Vậy tư duy độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc đến từ đâu ? Nó chính xác đến từ các bạn, ở phương Tây. Nó không phải là tư tưởng của các hiệp ước pháp lý truyền thống của Trung Quốc.

Theo cách này, những suy nghĩ truyền thống của Trung Quốc nặng hơn về pháp luật và các hiệp ước, trong khi tư duy truyền thống phương Tây nặng về luật rừng. Chỉ trong thời hiện đại thì tình hình đã đảo ngược, khi luật rừng được áp dụng bởi Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Trung Quốc, trong khi hầu hết các nước phương Tây đang có nhiều khả năng đi theo những ý tưởng mới của pháp luật và hiệp ước.

Tại sao phương Tây thay đổi tư duy truyền thống của mình ? Đó là bởi vì người dân của các quốc gia dân chủ thích hòa bình, và được quen với suy nghĩ phù hợp với pháp luật và các hiệp ước. Vì vậy, họ thường kết thúc một sai lầm, nghĩ rằng những người khác cũng chỉ như mình, mà không hiểu rằng những người khác có thể là khác mình. Đặc biệt, họ không hiểu rằng những suy nghĩ của các bạo chúa không phải là để tuân thủ pháp luật và các hiệp ước, mà là để bắt nạt với luật rừng.

Những người bạn cũ của Đảng Cộng sản Trung Quốc như Henry Kissinger lớn tiếng lập luận  cho những kẻ bạo ngược này : họ nói rằng họ muốn "Thao quang dưỡng hối" (Tao Yang Guang Hui) - để giữ một quan điểm khiêm nhường. Người Mỹ đã không hiểu được ý nghĩa thực sự của thành ngữ Trung Quốc nổi tiếng này, ý tưởng đó có nghĩa là để đưa các vũ khí vào kho và lùa những con ngựa chiến vào núi. Trong thực tế, ý nghĩa thực sự của thành ngữ này là: giấu những mũi tên trong túi giả vờ hòa bình và chờ đợi cho đến khi đúng thời điểm thì tiêu diệt kẻ thù.

Đây là sự khác biệt căn bản của hai cách suy nghĩ. Ngay bây giờ, tay của Xi Jinping đang sờ tới những mũi tên tẩm độc trong túi của mình, đang khao khát bắn thử sang các nước láng giềng. Thật vậy, ông ta không thể chờ đợi lâu hơn nữa. Không phải ông không thể chờ đợi là do môi trường quốc tế, mà là do hoàn cảnh bên trong của Trung Quốc. Nếu không có lực lượng cảnh sát quốc tế sẵn sàng chịu trách nhiệm đối với hòa bình, hòa bình có lẻ đã biến mất rồi.

Đã đến lúc chúng ta nên biết ai là kẻ to mồm nói dối tầm quốc tế đang được giúp đỡ bằng những kẻ ủng hộ chính sách nhân nhượng. Nếu họ thực sự là những học giả có đầu óc tỉnh táo, tức là họ đang phản bội lại người dân của họ vì lợi ích cá nhân. Tất nhiên, một truyền thống khác của nền chính trị Mỹ hiện đại là : những kẻ giỏi phản bội là những người được ngưỡng mộ. Truyền thống đó làm cho các học giả này, những kẻ đã nói dối với người dân Mỹ, trở thành hợp thời trang.

Popular Posts