Chung quanh phán quyết sắp tới ở biển Đông ( phần cuối)



Đá ngầm, Đá, và Quy định của pháp luật, Sau phán quyết ở Biển Đông.


Đội ngũ pháp lý của Philippines trình bày vụ kiện của mình trong phần tranh tụng tại The Hague. Hàng ghế đội Trung Quốc bị bỏ trống. (Ảnh do sự giúp đở của Tòa án Trọng tài Thường trực )
 Mira Rapp-Hooper và Harry Krejsa. Trung tâm An ninh mới của Mỹ. tháng 4 năm 2016 . Theo Đá ngầm, Đá và Quy định của pháp luật

Trần H Sa lược dịch

Dự đoán Quyết định của Tòa án

Nhiều động cơ thúc đẩy việc đưa ra phán quyết của Tòa án. Ban hội thẩm năm thành viên cũng nhận thức rằng đây là vụ kiện hàng hải tầm quốc tế được theo dõi sát sao nhất trong lịch sử UNCLOS, và là vụ kiện có những tác động đáng kể đối với Luật Biển cũng như chính trị ở khu vực. Nó sẽ cố tìm cho được sự chính xác từ các tiền lệ, nhưng cũng sẽ được nhận thức rằng nó đang thiết lập một tiền lệ sâu rộng của riêng nó. Toà án rõ ràng sẽ tìm cách áp dụng tính pháp lý tối đa trên các tranh chấp ở Biển Đông và cắt giảm phạm vi tranh chấp của chúng, trong khi cũng ban hành một phán quyết mà sẽ được xem là hợp pháp. Điều này sẽ khuyến khích các bên yêu sách khác theo đuổi sự phân xử của trọng tài.

Đường Chín đoạn

Tòa án có thể sẽ phán quyết rằng đường chín đoạn là không phù hợp với UNCLOS. Tuy nhiên, có ít nhất hai cách khác nhau mà nó có thể đưa ra phán quyết này. Thứ nhất sẽ là chỉ đơn giản tuyên bố rằng những yêu sách bao hàm bởi đường chín đoạn là bất hợp pháp theo UNCLOS. Cách tiếp cận thứ hai chỉ đơn giản sẽ là phán quyết rằng một số giải thích đáng tin cậy của đường chín đoạn là không phù hợp với UNCLOS, và rằng UNCLOS thay thế cho bất kỳ yêu sách chủ quyền lịch sử nào tồn tại từ trước, do không hề có lý lẽ về quyền lịch sử được đưa ra một cách quả quyết vào thời điểm sớm hơn UNCLOS.

Phương pháp tiếp cận thứ nhất sẽ có lợi thế là rõ ràng tối đa và dứt khoát. Tuy nhiên, cách thứ hai sẽ cung cấp một số cơ hội cho Trung Quốc để giữ thể diện. Thay vì tấn công vào đường chín đoạn của Trung Quốc là "bất hợp pháp", một phán quyết của Tòa án hoàn toàn phụ thuộc vào UNCLOS sẽ cung cấp cho Trung Quốc cơ hội đưa những yêu sách của nó phù hợp với Luật biển theo thời gian. Có rất ít cơ hội rằng Trung Quốc sẽ đơn giản từ bỏ đường chín đoạn của nó, nhưng nếu tòa án cho nó một số lý do để cơ động, nó có thể thấy thích hợp để dần dần điều chỉnh lại yêu sách của mình một cách phù hợp hơn với UNCLOS. Ví dụ, Trung Quốc có thể thay đổi những tuyên bố công khai của nó về đường chín đoạn, bằng cách ít nói hơn về đường chín đoạn như là một yêu sách thuộc "quyền lịch sử" và nói nhiều hơn rằng nó như là một yêu sách về "lãnh thổ cộng với các quyền lợi hàng hải" .

Một phán quyết bất lợi trên đường chín đoạn cũng có ý nghĩa quan trọng đối với Đài Loan. Đài Loan không được trình bày trước Tòa, và nó không tích cực nhấn mạnh yêu sách của mình bên trong đường 11 đoạn theo cách mà Trung Quốc thực hiện. (15) Tuy nhiên, nguồn gốc lịch sử của sự phân ranh giới này là như nhau . Nếu đường chín đoạn bị đánh ngã, chúng ta có thể chờ xem chính phủ mới của đảng Dân Tiến ở Đài Loan giảm thiểu vai trò của đường 11 đoạn trong chính sách Biển Đông của nó, và nâng cao UNCLOS trong các quan điểm công khai của riêng Đài Loan. 

Trạng thái của các tính năng và Quyền lợi hàng hải

Có vẻ như rất có thể là Tòa án sẽ đưa ra phán quyết về tình trạng của ít nhất một số tính năng mà Philippines đã yêu cầu, cũng như các quyền lợi hàng hải của chúng. Tòa án nhận thấy rằng nó có thẩm quyền để làm như vậy mà không quyết định về vấn đề chủ quyền. Thất bại trong việc đưa ra quyết định về vấn đề này sẽ có nghĩa là tất cả các tính năng trong sự kiện, trên mặt lý thuyết, có thể được hưởng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa đầy đủ, để lại cho Biển Đông một mớ rối rắm hàng hải. Tuy nhiên, tòa án không cần phải quyết định về tình trạng của tất cả các tính năng, mà nó đã cẩn thận xem xét bằng chứng, Tòa có thể chỉ phán quyết về một số trong các tính năng đó. Toà án có nhiều khả năng ra phán quyết về vấn đề rạn đá ngầm khác với đá - đó là, liệu Subi, Vành Khăn, Gaven, Hughes, và Bãi Cỏ Mây có nên được xem là những tính năng ở dưới mặt nước biển hay không, qua đó chúng không có quyền lợi hàng hải. Mặc dù Trung Quốc đã xây dựng trên đỉnh của bốn trong số những tính năng này, nhóm luật sư của Philippines đã nộp những chứng cứ phong phú từ các nước khác nhau, và cuối cùng là con số một trong hệ nhị phân, phải chăng các tính năng này là những nơi nửa chìm nửa nổi (LTEs) : Theo Điều 13, UNCLOS , một tính năng được xem là một LTE nếu nó bị ngập nước lúc thủy triều cao. LTEs không được hưởng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, hoặc lãnh hải - trong thực tế, chúng không phải là đối tượng để tuyên bố chủ quyền ở mọi khía cạnh và được coi là một phần của đáy biển. Nếu bằng chứng trước tòa án chỉ ra thực tế rằng bốn tính năng này hội đủ điều kiện như là những LTEs, Tòa án sẽ có khuynh hướng phán quyết chúng như vậy, vì điều này sẽ làm giảm đáng kể phạm vi các tranh chấp hàng hải ở quần đảo Trường Sa.


Những tính năng giữa đại dương lớn hơn, chẳng hạn như Itu Aba, đá Johnson South , Đá Chữ Thập, Châu Viên , có thể được phán quyết là đá, và do đó sẽ được hưởng lãnh hải 12 hải lý như thể hiện ở đây. Những tính năng nửa chìm nửa nổi (LTE), chẳng hạn như Vành Khăn, Gaven, và Subi, sẽ không có lãnh hải.


Tuy nhiên, Philippines còn có yêu cầu rằng, Tòa án phán quyết cho bốn tính năng khác như là đá chứ không phải đảo đúng nghĩa, là một yêu cầu hóc búa hơn . Theo Điều 121 UNCLOS , đá được coi là một dạng của đảo mà chỉ có quyền lãnh hải, nhưng không có thềm lục địa hay EEZ. Theo Điều 121.3, đá là những tính năng hình thành tự nhiên ở trên mặt nước khi thủy triều cao, còn đảo đúng nghĩa phải có khả năng duy trì sự sống của con người và cũng phải có đời sống kinh tế riêng của chúng. Tòa án sẽ quyết định như thế nào về việc các tính năng tại Trường Sa theo đơn kiện, hội đủ hay không hội đủ những tư cách này ?

Các yếu tố pháp lý và các cứu xét liên quan đến việc xác định liệu một tính năng có thể hay không có thể duy trì sự sống của con người và đời sống kinh tế, không được trình bày rỏ ràng hay đồng thuận thông qua. Nhiều chuyên gia chỉ ra sự tồn tại của nước ngọt như là một tiêu chuẩn, vì nó cho phép sự sống và hoạt động kinh tế. Tuy nhiên, ngoài các trường hợp nêu trên, có rất ít tiền lệ pháp lý nổi bật mà Tòa án có thể căn cứ để phán quyết đảo khác với đá. Những vụ kiện trước Tòa án Công lý Quốc tế và Tòa án Quốc tế về Luật Biển đã thất bại trong việc làm rõ sự mơ hồ trong Điều 121.3. (16)

Tòa án có thể đặc biệt do dự phán quyết trên vấn đề "đá khác với đảo" trong trường hợp của Itu Aba, hòn đảo bị nắm giử bởi Đài Loan kể từ năm 1946. Itu Aba là tính năng tự nhiên lớn nhất trong quần đảo Trường Sa, vì vậy nếu nó không được coi là một đảo, thì không có tính năng nào khác ở Trường Sa được xem là đảo. Tuy nhiên, Đài Loan không có cơ hội để trình bày thông tin về tình trạng của Itu Aba trước Tòa án, và nó có thể lập luận hợp lý rằng Itu Aba có thể hỗ trợ kinh tế và đời sống của con người. Do đó, Tòa án có thể thận trọng khi phán quyết Itu Aba là đá, vì sợ rằng kết quả này sẽ dẫn đến phản ứng dữ dội từ Đài Loan và những nước khác trong khu vực.

Mặt khác, Tòa án có thể lựa chọn phán quyết Itu Aba là đá trong một nỗ lực gia tăng sự rỏ ràng tối đa vào các tranh chấp ở Biển Đông. Có một tiền lệ trong các vụ kiện Nicaragua và Colombia để hạn chế các tính năng thuộc về đảo đối với quyền lợi hàng hải 12 hải lý, nhằm giảm tác động của chúng trên các quyền lợi hàng hải của các quốc gia ven biển - một phương pháp có thể được coi như một hình thức của chủ nghĩa thực dụng địa lý. Tuy nhiên, các tác giả đánh giá rằng đây không phải là kết quả khả dĩ nhất, trước sự mơ hồ trong điều 121.3.


Nếu Itu Aba được phán quyết là một hòn đảo (hoặc nếu Tòa án không ra phán quyết về tình trạng của nó, để ngỏ khả năng rằng nó có thể là một hòn đảo), nó sẽ được hưởng cả một vùng lãnh hải 12 hải lý và 200 hải lý khu đặc quyền kinh tế (EEZ) như được mô tả ở đây. EEZ này sẽ bao gồm nhiều tính năng giữa đại dương mà Trung Quốc yêu sách chủ quyền 
.Tuy nhiên, Tòa án không cần phải quyết định về mọi tính năng và có thể chỉ phán quyết trên một số. Nó có thể tìm thấy sự thận trọng, gác sang bên vấn đề tình trạng của Itu Aba vì thẩm quyền hay vì lý do khác, và chỉ phán quyết vấn đề "đá khác với đảo" cho các tính năng bị Trung Quốc chiếm đóng. Trước khi Trung Quốc xây dựng đảo, đá Chử Thập, Gạc Ma, Châu Viên, và bãi cạn Scarborough chỉ là những mỏm nhô lên như những đốm nhỏ. Đúng là khó khăn hơn nhiều để tranh luận rằng các tính năng này có thể duy trì sự sống con người hay đời sống kinh tế ở các quốc gia của chúng trước kia. Nếu Tòa án gạt sang bên Itu Aba và quyết định phán quyết về các tính năng Trung Quốc nắm giử, nó có thể phán quyết rằng tất cả bốn trong số này là đá và chỉ được hưởng một vùng lãnh hải 12 hải lý. Nó cũng có thể lựa chọn để đưa ra quyết định này đối với chỉ một số tính năng Trung Quốc nắm giử, tùy thuộc vào nơi nào mà bằng chứng khảo sát có sẵn là hấp dẫn nhất.

Hoạt động của Trung Quốc trong vùng EEZ của Philippines

Tòa án dường như có khả năng phán quyết rằng ít nhất một số hoạt động của Trung Quốc bên trong EEZ của Philippines là không phù hợp với UNCLOS. Điều này có thể bao gồm sự can thiệp của Trung Quốc trước các hoạt động đánh cá của Philippines, đuổi ngư dân Philippines ra khỏi bãi cạn Scarborough, hay nỗ lực ngăn chặn Manila tái cung cấp cho đồn bót của mình tại Bãi Cỏ Mây. Về vấn đề xây dựng đảo nhân tạo, Toà án có khả năng tìm thấy rằng Trung Quốc nên tiến hành một cuộc khảo sát các tác động và tự chế không gây thiệt hại môi trường bằng cách ồ ạt cải tạo đất . Nó cũng có thể phán quyết rằng việc cải tạo đất đai mà Trung Quốc đã tiến hành trong vùng EEZ của Philippines, bao gồm xây dựng tại Mischief Reef, rỏ ràng bị nghiêm cấm bởi UNCLOS.

Sau Trọng tài phân xử : những tác động toàn cầu và khu vực

Các tác giả đánh giá rằng phán quyết của Tòa án sẽ tạo thuận lợi cho Philippines về nhiều mặt nhưng không phải tất cả các sự kiện đều được xem xét. Tòa án gần như chắc chắn sẽ tìm thấy đường chín đoạn là không phù hợp với UNCLOS. Dường như có khả năng rằng nó sẽ tìm thấy bốn trong số các tính năng Trung Quốc chiếm giử là LTEs vì trái ngược với đá. Nó cũng có thể phán quyết rằng một số tính năng là "đá" vì trái ngược với đảo đúng nghĩa. Nếu một số tính năng của Trung Quốc được phán quyết là đá, nhiều nhất, chúng sẽ được hưởng một vùng lãnh hải không quá 12 hải lý và thực sự sẽ bị bao quanh bởi quyền lợi hàng hải của quốc gia khác. Điều này sẽ hạn chế đáng kể các quyền pháp lý của Trung Quốc để khai thác tài nguyên trong vùng EEZ của Philippines và sẽ làm giảm đáng kể phạm vi tranh chấp hàng hải ở Biển Đông. Tất nhiên, Philippines và Trung Quốc chỉ là hai trong số năm bên tranh chấp đang nắm giữ lãnh thổ ở quần đảo Trường Sa. Hơn nữa, bất kỳ ranh giới hàng hải chồng lấn nào còn tồn tại giữa Philippines và Trung Quốc sẽ cần phải được phân định lại theo các Điều 74 và 83 của UNCLOS, trong đó bị chi phối bởi việc phân định các vùng EEZ và thềm lục địa.

Tác động đối với Trọng tài phân xử trong tương lai

Một trong những tác động quan trọng nhất đối với một phán quyết của Toà án là, ví dụ, nó có thể phục vụ cho một bên yêu sách khác. Nếu trọng tài làm rõ những tranh chấp hàng hải rối rắm này, những nước khác có thể theo sau. Việt Nam, nước đã đối phó với yêu sách mâu thuẫn của Trung Quốc cũng như việc xâm nhập vào vùng biển của nó bằng giàn khoan sở hữu của Trung Quốc, đã bắt đầu suy ngẫm đến trọng tài quốc tế. Trong năm 2014 nó đã ra tuyên bố như đã nói ở trên với Toà án, ủng hộ thẩm quyền của tòa án, khước từ đường chín đoạn của Trung Quốc, và yêu cầu "quan tâm thích đáng" đến quyền và lợi ích riêng của Việt Nam. (17) Tháng 1 năm 2016 đã thấy một sự bố trí lại giàn lãnh đạo, tương đối nâng cao những viên chức thân Trung quốc hơn vào các cấp bậc cao hơn trong Đảng Cộng sản Việt Nam, có lẽ sự thực hiện hành động có tính quy phạm pháp luật như vậy có phần ít có khả năng ở trong ngắn hạn. (18) Tuy nhiên, về lâu dài, những tranh chấp này không có khả năng được giải quyết bằng cách khác, và trọng tài phân xử có lẽ sẽ vẫn là một kế hoạch dự phòng hấp dẫn.

Indonesia, mặc dù không có yêu sách lãnh thổ ở Biển Đông, đã có tranh chấp dai dẳng với Trung Quốc trên hòn đảo Natuna của nó. Bộ Ngoại giao Indonesia đã tuyên bố rằng nó không chấp nhận đường chín đoạn là phù hợp với luật pháp quốc tế, và đã chỉ ra rằng nó cũng có thể chuyển sang một tòa án trọng tài quốc tế. (19) Có lẽ để tìm cách chặn đầu hành động như vậy, Trung Quốc đã ban hành một tuyên bố công khai đầu tiên làm rõ rằng nó không tuyên bố chủ quyền trên quần đảo Indonesia. Tuy nhiên, rõ ràng sự độ lượng của Trung quốc cũng đi đôi với một cảnh báo ngầm cho Indonesia để xem lại làn ranh của mình ; Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi nói, "Phía Indonesia không có yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc [tức Quần đảo Trường Sa]. Phía Trung Quốc đã không phản đối chủ quyền của Indonesia đối với quần đảo Natuna."(20)

Mặc dù các tranh chấp hàng hải của họ phần lớn tập trung tương đối xa biển Hoa Đông, Nhật Bản và Trung Quốc từ lâu đã tranh cãi về tính năng không có người ở, tại vùng biển phân ranh hai nước. Việc khai thác tài nguyên dưới đáy biển gần đây đã chi phối các tranh chấp đang diễn ra. Nhật yêu cầu Trung Quốc chấm dứt xây dựng các giàn khoan thăm dò dầu khí tại các khu vực tranh chấp ở Biển Hoa Đông, việc làm mà dường như trái với một thỏa thuận năm 2008 giữa hai bên, rằng, cùng phát triển vùng biển tranh chấp. Nếu các cuộc đàm phán song phương tiếp tục chứng minh không có kết quả, đảng cầm quyền của Nhật Bản cho biết họ đang thăm dò sự hổ trợ thông qua trọng tài quốc tế. (21)

Ngay cả Malaysia, quốc gia có truyền thống tránh xa những tranh chấp lời qua tiếng lại trên tranh chấp chủ quyền Biển Đông, cũng đã bắt đầu lên tiếng chống lại những yêu sách của Trung Quốc với những chuẩn mực vững chắc. Trong khi vẫn chưa trực tiếp đưa ra hoặc ngầm đe dọa theo đuổi của một vụ kiện với trọng tài chống lại Trung Quốc, Malaysia đã bắt đầu triển khai những từ ngữ mang tính pháp lý hơn. Vào cuối năm 2015, Phó thủ tướng Malaysia, không trực tiếp nêu tên Trung Quốc, nói rằng yêu sách chủ quyền phần lớn biển Đông "do câu chuyện lịch sử là không hợp lệ", và đặt câu hỏi, liệu có ý nghĩa hay không đối với các cơ sở bảo vệ bờ biển mà lại được xây dựng trên các hòn đảo cách xa hơn 3.000 km tính từ đại lục của một quốc gia không được nêu tên.(22) Quan tâm của Malaysia vào một sự cầu viện pháp lý quốc tế cũng có thể phát triển khi những căng thẳng trên Biển Đông tiếp tục như hiện nay.

Tác động đối với Trung Quốc

Mặc dù thực tế rằng Trung Quốc đã từ chối tham gia, quyết định của Tòa án có ý nghĩa sâu sắc đối với nó. Bắc Kinh nói rõ rằng nó sẽ không chấp nhận hoặc tuân theo phán quyết. Quyết định vẫn sẽ ràng buộc Trung Quốc. Tuy nhiên, một câu hỏi quan trọng là, phải chăng Trung Quốc sẽ chỉ đơn giản là chê bai và sau đó phớt lờ quyết định, hay phải chăng họ sẽ có những hành động để chống lại nó.

Có thể là Bắc Kinh sẽ cố gắng đáp ứng phán quyết với một tuyên bố pháp lý của riêng nó. Các nhà phân tích từ lâu đã dự đoán rằng Trung Quốc có thể tuyên bố một vùng nhận định phòng không (ADIZ) ở Biển Đông , như đã làm ở biển Hoa Đông vào năm 2013. ADIZs không phải là một cơ chế pháp lý quốc tế hoặc liên quan đến Luật Biển. Đúng hơn, chúng là những vùng quy định mà các quốc gia riêng lẻ thành lập để giám sát các hoạt động hàng không dân dụng và được điều chỉnh bởi Công ước về hàng không dân dụng. (23)

Không kể tính chất phi pháp của nó, ADIZ ở biển Hoa Đông của Trung Quốc dường như là một nỗ lực của Bắc Kinh nhằm thiết lập chủ quyền hành chính đối với đảo Senkaku, hòn đảo mà nó bao gồm trong tuyên bố chủ quyền của mình. Trung Quốc đã không thực thi đầy đủ ADIZ ở biển Hoa Đông của nó kể từ năm 2013, điều đó cho thấy rằng nó có thể sẵn sàng khai báo một ADIZ ở Biển Đông, thậm chí nếu nó không có khả năng thực hiện một cách đầy đủ việc giám sát ở đó. Việc xây dựng đường băng và radar tinh vi trên các đảo nhân tạo của Trung Quốc, đã cải thiện đáng kể khả năng của nó để theo dõi các hoạt động hàng không tại Trường Sa, và nó cũng đã có khả năng tương tự ở quần đảo Hoàng Sa trong nhiều năm qua.

Tháng 3 năm 2016, Trung Quốc tuyên bố rằng nó sẽ tạo ra một "luật hàng hải cơ bản" mới giữa năm 2016 và 2020 để tăng cường thực thi pháp luật hàng hải và lợi ích hàng hải của mình. Bắc Kinh đã lập ra những luật lưu hành ở trong nước mâu thuẫn với nguyên lý cơ bản của UNCLOS, trong đó có Luật Vùng tiếp giáp và Lãnh Hãi năm 1992 , và đạo luật Vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa năm 1998.

Trung Quốc có thể chuyển sang một ADIZ, pháp luật trong nước mới, hoặc cả hai trong những tháng ngày theo sau quyết định của Tòa án. Bắc Kinh có thể tính toán rằng những thứ này cung cấp cho nó sự biện minh với quốc tế, và thậm chí non yếu, rằng các hoạt động trên Biển Đông mà Tòa án ra phán quyết là không phù hợp với UNCLOS. Tất nhiên, hành động đơn phương như luật mới ở trong nước, sẽ không thay thế được UNCLOS, và Trung Quốc sẽ phải đối mặt với sự mất mát uy tín nếu nó tuyên bố các quy phạm pháp luật hoặc vùng quy định mới, trong một nỗ lực nhằm thay thế quyết định của Tòa án.

Trước việc vụ kiện này đã trải qua quá trình trong ba năm và rằng thời điểm đúng lúc để đưa ra phán quyết là rất dễ đoán, Trung Quốc cũng có thể sẽ có một số hành động trong hoặc chung quanh quần đảo Trường Sa, qua đó chặn trước phán quyết của Tòa án. Nhiều chuyên gia suy đoán rằng Bắc Kinh thực hiện chiến dịch xây dựng đảo có hệ thống và nhanh chóng của nó trong năm 2014-2015, với mục tiêu hoàn thành các dự án này trước khi một quyết định được đưa ra. Trước một phán quyết cuối cùng, Trung Quốc có thể kích hoạt một loạt xây dựng ồ ạt để khẳng định vị thế của nó trong quần đảo Trường Sa. (24)

Quyết định của Tòa án cũng sẽ có khả năng trình bày một số cơ hội giử thể diện cho Trung Quốc. Nếu quyết định vô hiệu hóa đường chín đoạn chỉ bằng cách ngụ ý, và những phán quyết về tình trạng của một số chứ không phải tất cả các tính năng của Trung Quốc, Trung Quốc có thể thực sự thấy phù hợp để dần dần đưa yêu sách của mình gần gũi hơn với ngữ nghĩa của các phán quyết. Chúng ta không nên mong đợi để thấy điều này trong vài tuần hoặc thậm chí vài tháng sau khi quyết định được đưa ra, nhưng một quyết định mà tránh trực tiếp huỷ bỏ hiệu lực của đường chín đoạn và tước đi nhiều nhưng không phải tất cả các tính năng liên quan đến các quyền lợi hàng hải của Trung Quốc, có khả năng sẽ bảo vệ con đường hợp lý nhất cho việc tuân thủ về lâu về dài .

Tác động đối với ASEAN

Phán quyết của Toà án cũng sẽ có tác động đối với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và các quốc gia thành viên của nó. Philippines là, tất nhiên, một thành viên của ASEAN, cũng như Việt Nam, Malaysia, Indonesia, và Brunei - những bên yêu sách khác ở quần đảo Trường Sa ngoài Đài Loan. ASEAN không xác nhận vụ kiện pháp lý của Philippines, nhưng gần đây nó đã kết thúc cuộc họp thượng đỉnh với các báo cáo, qua đó rõ ràng công nhận các quy định của pháp luật như là một phương tiện để giải quyết tranh chấp và tái khẳng định sự ủng hộ của tổ chức đối với UNCLOS. ASEAN có khả năng phát hành một số hình thức tuyên bố về phán quyết, có thể là một tuyên bố độc lập ũng hộ phán quyết, hoặc diễn đạt trong bản tuyên bố rộng lớn hơn của nó tại Diễn đàn Khu vực ASEAN vào mùa hè này. Tuyên bố không có khả năng mạnh thực sự, nhưng có lẽ sẽ nhắc lại sự ủng hộ của ASEAN đối với UNCLOS và các quy định của luật pháp.

Quyết định của Trung Quốc coi thường phán quyết sẽ dẫn nó đến chổ không có lợi với ASEAN hoặc các thành viên của nó. Việc xây dựng đảo của Trung Quốc trong thời gian 2014-2015 và từ chối đồng ý đóng băng việc khai hoang đất đã làm hỏng những hy vọng của ASEAN về một quy tắc ứng xử ràng buộc với Trung Quốc, trong một ngắn hạn. Nhưng quyết định của Trung Quốc rõ ràng không tuân theo các quy tắc của luật pháp có thể để lại cho các thành viên của nó thậm chí còn bi quan hơn về cơ chế quản lý tranh chấp mà dựa vào Bắc Kinh (những cuộc đàm phán với TQ, ND). Không phải Trung Quốc cũng không phải ASEAN có thể hoàn toàn từ bỏ các quy tắc ứng xử , nhưng những triển vọng cho một thỏa thuận như vậy bên phía các thành viên ASEAN đang trở nên lờ mờ.

Tác động đối với Hoa Kỳ

Hoa Kỳ không phải là một bên yêu sách ở Biển Đông và không trực tiếp hỗ trợ vụ kiện của Philippines trong khi nó đã ở trên quá trình. Tuy nhiên, kể từ năm 1995, nó đã khớp nối luật pháp quốc tế như là một trong những lợi ích quốc gia không thay đổi của mình ở Biển Đông, và Washington đã tán thành quyết định của Manila xử dụng các cơ chế pháp lý quốc tế để giải quyết những tranh chấp này. Hoa Kỳ và nhiều đối tác gần gũi của nó trong khu vực, do đó sẽ tìm cách hỗ trợ và củng cố quyết định của Tòa án. Vấn đề quan trọng đối với Washington là làm thế nào để có thể thực hiện điều đó tốt nhất, giả sử rằng nó biết Trung Quốc sẽ không tuân theo và rằng Hoa Kỳ sẽ không thể buộc nó phải tuân theo.

Bước đầu tiên sẽ là một chiến dịch ngoại giao công khai theo sau quyết định, thông qua đó, các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ ủng hộ Philippines và ũng hộ phán quyết ở khu vực và ở tại nhà. Giả sử Trung Quốc nhanh chóng lập lại sự không tuân thủ của nó, các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ cần kêu gọi nó thực hiện một cách công khai và ở chổ riêng tư , và không lập lờ nước đôi, nhắc lại rằng quyết định mang tính ràng buộc cho tất cả các bên. Một số đối tác của Hoa Kỳ, bao gồm Australia, Nhật Bản và Ấn Độ, đã công khai lên tiếng ủng hộ quá trình trọng tài phân xử, và Washington nên khuyến khích họ cũng thực hiện những báo cáo mạnh mẽ theo sau quyết định của Tòa .

Thứ hai, trong tháng Mười năm 2015, Hoa Kỳ tiếp tục các hoạt động tự do hải hành (FONOPS) ở vùng biển chung quanh quần đảo Trường Sa. Mặc dù họ xử dụng tàu hải quân và máy bay để gửi đi tín hiệu của họ, FONOPS chủ yếu là một công cụ pháp lý được thiết kế để không thừa nhận những yêu sách chủ quyền sai trái trên biển và trên bầu trời. Nếu Trung Quốc nhắc lại yêu sách chủ quyền đối với biển hoặc bầu trời mà không phù hợp với phán quyết của Tòa án, Washington nên xử dụng FONOPS để nhanh chóng và công khai không thừa nhận những điều này, và nên vạch kế hoạch FONOPS để phản ảnh quyết định của Tòa án. Mỹ nên tiếp tục làm như vậy, như là một vấn đề thường xuyên sau đó.

Thứ ba, nếu Tòa án thực sự phán quyết một số tính năng là LTEs và Trung Quốc bác bỏ quyết định, Hoa Kỳ và các đối tác của mình nên thay đổi cách nói về các tính năng này. Theo UNCLOS, không chỉ rạn đá ngầm không đi kèm với bất kỳ quyền lợi hàng hải nào, chúng chẵng có chút gì là đối tượng để tuyên bố chủ quyền. Sau phán quyết, thì, những tiền đồn của Trung Quốc trên Mischief, Subi, và Ga Ven có thể trở thành "những chiếm đóng bất hợp pháp." Họ nên nói đến như thế ở nơi công cộng và chổ riêng tư để làm tăng sự mất mát uy tín mà Bắc Kinh phải trả cho việc không tuân thủ nó.

Thứ tư, Hoa Kỳ cần phải xử dụng phán quyết của Tòa án để khuyến khích các bên tranh chấp khác tuân thủ và áp dụng luật pháp quốc tế. Washington nên triệu tập các quốc gia yêu sách Đông Nam Á khác, để thảo luận về những tác động và tiềm năng trong tương lai đối với trọng tài phân xử, trên các tổ chức của ASEAN và các diễn đàn khu vực khác. Bộ Ngoại giao cũng nên tạo ra một hồ sơ khác trong "chuỗi giới hạn trên biển" của nó, qua đó khám phá chiều sâu những tác động pháp lý từ quyết định của Tòa án, và cho thấy những trọng tài phân xử tiếp theo và việc phân định biên giới hàng hải có thể tiến hành như thế nào. Thậm chí nếu Trung Quốc không tuân thủ phán quyết, Hoa Kỳ cần phải khai thác đà pháp lý từ phán quyết .

Cuối cùng, giả sử Hoa Kỳ bắt đầu một chiến dịch ngoại giao công khai hỗ trợ quá trình trọng tài, nó có thể chờ đợi Trung Quốc chỉ ra thực tế rằng chính Washington đã chưa phê chuẩn hiệp ước UNCLOS. Hoa Kỳ tuân thủ UNCLOS như một luật tập quán, vì vậy điều này chủ yếu là một điểm nói chuyện thuận lợi cho Bắc Kinh, nhưng đảo nhân tạo của Trung Quốc đã tạo ra một công cụ luật pháp quốc tế đặc biệt quan trọng ở Biển Đông. Nếu Hoa Kỳ hy vọng khuyến khích các đối tác hỗ trợ Philippines, và các quốc gia yêu sách khác theo đuổi tiến trình pháp lý, nó cần phấn đấu để lãnh đạo bằng sự gương mẫu. Không có hy vọng rằng Thượng viện Hoa Kỳ hiện nay sẽ phê chuẩn hiệp ước, nhưng với cuộc bầu cử đang nhanh chóng đến gần, chính quyền nên chuẩn bị một kế hoạch phê chuẩn UNCLOS để cho tổng thống mới thi hành.

Kết luận

Quyết định của Tòa án Quốc tế về Luật biển trong vụ Philippines đối đầu với Trung Quốc sẽ là một trường hợp cực kỳ quan trọng dù trước đây có thảo luận việc thay đổi trật tự vị trí những quyết định không thể bác bỏ được của Tòa án. Hiếm khi có một tiến trình luật pháp quốc tế lại trực tiếp cắt đến cốt lõi của một tập hợp các vấn đề địa chính trị quan trọng như vậy . Khi Philippines khởi xướng vụ kiện của nó ba năm trước đây, nó đã có thể hình dung các tranh chấp ở quần đảo Trường Sa sẽ trở thành nổi bật như thế nào và sôi nổi như thế nào vào năm 2016. Từ tất cả các diễn viên tham gia, điều này đòi hỏi một hành động cân bằng mong manh: họ sẽ xử dụng phán quyết như thế nào để tiếp tục các lợi ích chính trị và hợp pháp của họ, trong khi vẫn giữ nó trong bối cảnh thách thức chiến lược rộng lớn hơn mà sẽ tiếp tục yêu sách ở Biển Đông ?

Đối với Trung Quốc, điều này có lẽ có nghĩa là thực hiện tốt lời hứa của mình để bác bỏ quyết định, mà không làm cho các nước khác trong khu vực xa lánh quá mức qua việc họ được thuyết phục từ sự hợp tác trong tương lai. Đối với Philippines, điều này có nghĩa là hoan nghênh phán quyết và sự hỗ trợ từ bạn bè và đồng minh, nhưng xen lẫn những mong chờ rằng Trung Quốc sẽ tuân theo trong tương lai gần. Đối với Hoa Kỳ, điều này có nghĩa là cũng cố lại sự hỗ trợ công khai cho quá trình và kết quả của nó, trong khi vẫn khuyến khích Trung Quốc nhận lấy những đường tránh để giử thể diện mà Tòa án có khả năng mở ra cho nó. Đối với ASEAN như là một tổ chức và đối với các quốc gia khác trong khu vực, điều này có thể có nghĩa là sự ủng hộ UNCLOS và luật pháp quốc tế trong một cách phù hợp mà không làm cho Trung Quốc xa lánh . Đối với các quốc gia yêu sách khác, nó có nghĩa là tham gia một cái nhìn nghiêm khắc về những rủi ro chính trị và pháp lý cùng những phần thưởng mà có thể đến từ những quyết định của riêng họ khi theo đuổi trọng tài phân xử.

Phán quyết của Tòa án có thể sẽ mở ra một giai đoạn căng thẳng cao trong khu vực khi các cầu thủ có liên quan dùng mánh khóe tranh thắng để tối đa hóa lợi lộc chính trị mà chúng có thể xuất phát từ phán quyết. Tuy nhiên, với bất cứ hy vọng nào, tất cả sẽ đặt phán quyết rất được chờ đợi này, ở trong bối cảnh lịch sử và địa chính trị của nó, và thừa nhận rằng đây là một bước đầu tiến tới sự rõ ràng dài hạn ở Biển Đông mà có thể không mang lại những thay đổi rỏ ràng ngay lập tức. Thật vậy, giá trị chính trị lớn nhất của phán quyết sẽ đến nếu nó thiết lập tiền lệ có ý nghĩa, và được chấp nhận bởi khu vực như là chính đáng và hữu ích. Điều này có thể, lần lượt, giúp đỡ gây xúc tác cho các vụ kiện trong tương lai qua đó làm giảm các tranh chấp gây sóng gió tại Biển Đông.

_Tiến sĩ Mira Rapp-Hooper là thành viên cao cấp ở Chương trình An ninh châu Á-Thái Bình Dương tại Trung tâm An ninh mới của Mỹ. Trước đây, cô là thành viên của Chương trình châu Á trong Trung tâm Nghiên Cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) và là giám đốc Sáng kiến ​​Hàng Hải Minh bạch thuộc CSIS.

_Harry Krejsa là một trợ lý nghiên cứu ở Chương trình An ninh châu Á-Thái Bình Dương tại Trung tâm An ninh mới của Mỹ. Krejsa trước đây hoạt động như một nhà phân tích chính sách cho Ủy ban Kinh tế Chung của Quốc hội , một nhà nghiên cứu tại Trung tâm nghiên cứu quân sự ngoại giao Trung Quốc tại Đại học Quốc phòng Quốc gia, và là một nhà tư vấn cho các cơ quan an ninh và phát triển quốc tế.

Có thể tham khảo văn bản UNCLOS bằng tiếng Việt Ở đây
(Xem phần ghi chú được đánh số thứ tự ở bản tiếng Anh qua link đã dẫn ở đầu bài )

1    2


-----------------------------------------|||--------------------------------------