Logic địa chính trị của cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung.
Nhận đường liên kết
Facebook
X
Pinterest
Email
Ứng dụng khác
-
Tranh chấp đã được thực hiện trong nhiều thập kỷ. George Friedman - Ngày 26 tháng 8 năm 2019 Theo GeopoliticalFutures Trần H Sa lược dịch . Kể từ khi Donald Trump nhậm chức vào năm 2017, Hoa Kỳ đã đưa ra một loạt các biện pháp nhằm cố gắng giảm mất cân bằng thương mại với Trung Quốc. Nhưng quyết định của Trump áp đặt thuế quan đối với Trung Quốc đã có từ trước bởi một thập kỷ đàm phán thất bại nhằm thiết lập mối quan hệ thương mại công bằng hơn giữa hai nước. Chính quyền Obama đã có nhiều cuộc họp cấp cao với các quan chức Trung Quốc về các rào cản của Trung Quốc đối với hàng nhập khẩu của Mỹ, và sự thao túng đồng nhân dân tệ của Trung Quốc. Cho dù công bằng hay không công bằng, nhận thức của nhiều chính quyền Hoa Kỳ là Trung Quốc đã được hưởng quyền tiếp cận miễn phí vào các thị trường Hoa Kỳ mà không cần đền đáp lại. Trung Quốc đã có những biểu hiệu thỏa hiệp, nhưng họ không thể chấp nhận các yêu cầu của Hoa Kỳ đòi tiếp cận nhiều hơn vào thị trường Trung Quốc. Nền kinh tế Trung Quốc từ lâu đã phụ thuộc rất nhiều vào việc xuất khẩu ra thị trường nước ngoài, vì thị trường nội địa của chính họ không thể hấp thụ nổi số lượng lớn hàng hóa mà ngành công nghiệp Trung Quốc đang sản xuất. Nhưng với sự tấn công của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, thị trường trong nước mang một ý nghĩa hoàn toàn mới. Ví dụ của người Nhật. Có một số điểm tương đồng giữa quan hệ thương mại Mỹ-Trung ngày nay và quan hệ thương mại Mỹ-Nhật vào những năm 1980. Trong những năm 1970 và 1980, sản xuất công nghiệp của Nhật Bản vượt quá đáng kể nhu cầu trong nước, và Nhật Bản đã đóng cửa phần lớn thị trường của mình để nhập khẩu từ Mỹ. Những năm từ giữa đến cuối thập niên 1980 là thời điểm căng thẳng cực độ giữa hai nước. Hoa Kỳ thực hiện các đe dọa trả đũa nghiêm trọng, nhưng không có sự đe dọa nào được thông qua vì hai lý do. Thứ nhất, Nhật Bản là một đồng minh chiến lược của Hoa Kỳ. Sự cần thiết phải ngăn chặn Liên xô từ Vladivostok - đòi hỏi sự hợp tác của Nhật Bản - cuối cùng quan trọng hơn sự mất cân bằng thương mại của Mỹ với Nhật Bản. Thứ hai, vào cuối những năm 1980, nền kinh tế Nhật Bản bắt đầu sụp đổ. Sự cạnh tranh từ các trung tâm sản xuất khác buộc Nhật Bản phải giảm giá xuất khẩu, gây nên giảm tỷ suất lợi nhuận và làm suy yếu hệ thống ngân hàng vốn là nền tảng cho công nghệ xuất khẩu của Nhật Bản. Các ngân hàng bị thu hẹp và sụp đổ, có nghĩa là các nhà sản xuất Nhật Bản không còn có thể xuất khẩu ở mức độ tương tự như trước đó. Nhưng trước khi các ngân hàng sụp đổ, đã có sự gay gắt tột bực và tình cảm chống Nhật ở Hoa Kỳ về vấn đề mất việc làm cho các nhà sản xuất Nhật Bản. Hôm nay chúng ta đang thấy những phản ứng tương tự với Trung Quốc. Và Trung Quốc hiện đang phải đối mặt với sự cạnh tranh mạnh mẽ và cũng đang bị giảm giá, trong khi cố gắng thâm nhập vào các thị trường cạnh tranh cao khác về công nghệ. Điều đó nói rằng, có một sự khác biệt cơ bản giữa Nhật Bản và Trung Quốc. Nhật Bản là một tài sản chiến lược đối với Hoa Kỳ - trong một chừng mực nào đó đã giúp kềm chế sự ma sát kinh tế. Trung Quốc không chỉ không phải là tài sản chiến lược đối với Mỹ mà còn ngày càng được coi thực sự là một mối đe dọa chiến lược. Dù thế nào thì, Trung Quốc đã nhấn mạnh đến sức mạnh quân sự ngày càng tăng của họ, có nghĩa là những cái phanh có mặt trong quan hệ Mỹ-Nhật thì không có mặt trong quan hệ Mỹ-Trung. Bắc Kinh là mối đe dọa cả quân sự lẫn kinh tế sẽ buộc Washington có các phản ứng khác biệt so với Nhật bản . Nhưng Trung Quốc đã tuân theo chiến lược của Nhật Bản trong việc đối phó với Mỹ. Họ đã tổ chức nhiều cuộc họp mà kết thúc không có một cách giải quyết nào. Vì dường như không có đòn bẩy nào để buộc Trung Quốc thay đổi chính sách của họ, nhiều chính quyền Mỹ chỉ đơn giản tiếp tục tổ chức các cuộc đàm phán mà cuối cùng dường như không đi đến đâu. Trong các cuộc đàm phán này, Trung Quốc đã được hỗ trợ bởi các khoản đầu tư lớn vào Trung Quốc do các công ty Mỹ thực hiện, điều này đã thúc đẩy Washington duy trì mối quan hệ ổn định với Bắc Kinh. Nhưng trong khi các công ty này thu được lợi nhuận từ mối quan hệ với Trung Quốc, người ta luôn đặt câu hỏi liệu nền kinh tế Mỹ có tốt như vậy hay không. Họ đã ở Trung Quốc để tận dụng sức lao động giá rẻ của Trung Quốc, nhưng khi làm như vậy, họ đã đóng cửa các nhà máy ở Mỹ và tống khứ các công nhân Mỹ. Điều này giúp cho lợi nhuận ròng của họ, nhưng sự giàu có được tạo ra vẫn còn ở Trung Quốc. Một sự chuyển đổi. Trong các chính quyền trước đây, việc gia công sản xuất cho các doanh nghiệp Hoa Kỳ đã gây khó khăn cho hành động chống lại Trung Quốc. Nhưng sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, việc sa thải ồ ạt tầng lớp lao động công nghiệp mạnh mẽ trước đây đã tạo ra một bộ phận dân số đông đảo và giận dữ, trở nên có tác động chính trị ngang bằng với các doanh nghiệp Hoa Kỳ hoạt động tại Trung Quốc. Lựa chọn đơn giản là tiếp tục các cuộc đàm phán không có hồi kết, qua đó không có tác động đến chính sách của Trung Quốc, đang dần tan biến. Và vì vậy, chính quyền Trump đã sử dụng thuế quan để cố gắng buộc người Trung Quốc mở cửa thị trường của họ để Mỹ cạnh tranh. Vấn đề là nền kinh tế Trung Quốc không có khả năng chấp nhận sự cạnh tranh như vậy. Cuộc khủng hoảng tài chính ảnh hưởng nghiêm trọng đến công nghệ xuất khẩu của Trung Quốc khi suy thoái kinh tế toàn cầu làm giảm sự ham muốn đối với hàng hóa Trung Quốc. Điều này làm tổn thương nền kinh tế Trung Quốc rất lớn, ném cho nó sự mất cân bằng trong một cuộc khủng hoảng mà vẫn còn dội lại ở Trung Quốc ngày nay. Giải pháp chính của Trung Quốc cho vấn đề này là gia tăng tiêu dùng nội địa - một nhiệm vụ tỏ ra khó khăn vì nạn phân bố giàu nghèo ở Trung Quốc, sự bất lực của các thị trường tài chính trong việc tăng mạnh tín dụng của người tiêu dùng, và việc công nghiệp Trung Quốc nhắm mục tiêu ở nước ngoài, chứ không phải là người tiêu dùng nội địa. Bán một chiếc iPad cho nông dân Trung Quốc không phải là dễ dàng. Cho phép Mỹ tiếp cận thị trường Trung Quốc sẽ gây đau đớn nếu không muốn nói là thảm họa. Thị trường nội địa Trung Quốc là bến đỗ duy nhất mà Trung Quốc có, và nhu cầu của Hoa Kỳ tiếp cận nhiều hơn với nó là không thể đáp ứng. Trung Quốc trả đũa chống lại thuế quan của Hoa Kỳ, nhưng nó yếu ớt. Trung Quốc lấy được 4% tổng sản phẩm quốc nội từ xuất khẩu sang Mỹ. Hoa Kỳ chỉ kiếm được 0,5% từ xuất khẩu sang Trung Quốc. Trung Quốc có thể làm hại Hoa Kỳ ít hơn nhiều so với Hoa Kỳ có thể làm hại Trung Quốc. Những chỉ trích về việc sử dụng thuế quan của chính quyền Trump sẽ cho thấy các nông trại hoặc các nhà máy khác nhau đã bị tổn thương bởi thuế quan, và những lời chỉ trích đó là hợp lý, nhưng họ không chụp được bức tranh đầy đủ. Trung Quốc đã phản ứng bằng cách hạ thấp giá trị của đồng nhân dân tệ, do đó làm cho hàng xuất khẩu của họ rẻ hơn. Chiến lược này hoạt động trong ngắn hạn, nhưng vì nó làm tăng giá các mặt hàng như dầu mỏ, nên nó không phải là một giải pháp về lâu dài. Nó cũng đã củng cố trường hợp của những người nói rằng Trung Quốc thao túng tiền tệ của nó để củng cố vị thế là một nhà xuất khẩu. Điều quan trọng cần nhớ rằng đây không phải là một lời buộc tội mới; Chính quyền Obama đã rất tích cực vào điểm này nhưng đã không trả đũa. Chính quyền Trump cũng đã lặp lại tuyên bố và, đầu tháng này, chính thức gán cho Trung Quốc là một quốc gia thao túng tiền tệ . Nhưng Trump gần đây đe dọa sẽ có hành động nghiêm trọng hơn : buộc các công ty Mỹ ở Trung Quốc rời khỏi và trở về Hoa Kỳ. Có một số tiền lệ pháp lý cho việc này, nhưng nếu Hoa Kỳ tuân theo, nó sẽ bị thách thức tại tòa án trong một thời gian dài. Một động thái như vậy sẽ là một mối đe dọa nghiêm trọng đối với các doanh nghiệp Hoa Kỳ, có thể còn nhiều hơn cả chính Trung Quốc. Về mặt chính trị, động thái này củng cố vị thế của Trump trong số những người Mỹ đổ lỗi cho cuộc đấu tranh kinh tế của họ qua việc thuê người Trung Quốc làm hàng gia công. Và với một cuộc bầu cử sắp diễn ra, chiến lược chính trị về mối đe dọa của Trump là rõ ràng. Nhưng đó cũng là áp lực mà Mỹ đang áp đặt lên Trung Quốc. Các công ty công nghệ cao nước ngoài đang hoạt động tại Trung Quốc là một ống dẫn quan trọng cho việc Trung Quốc tiếp cận công nghệ mới.
Địa chính trị bao gồm các vấn đề chính trị, kinh tế và quân sự. Khi so sánh Trung Quốc và Nhật Bản, chúng ta có thể thấy cả ba đang làm việc. Trong trường hợp Nhật Bản, các cân nhắc quân sự được ưu tiên hơn hai hành động còn lại và đã hạn chế hành động của Hoa Kỳ. Trong trường hợp của Trung Quốc, chính trị và kinh tế đều đang thúc đẩy Mỹ hành động, trong khi không có sự cân nhắc quân sự nào để giữ Mỹ quay lại. Nếu Trung Quốc quyết định chống lại bằng quân sự, tốt hơn là họ nên làm như vậy ngay bây giờ khi họ vẫn còn yếu, thay vì sau này khi họ mạnh hơn. Logic của địa chính trị đưa chúng ta đến điểm này. Và Mỹ khó có thể lùi bước nếu không có sự nhượng bộ mà Trung Quốc cũng không thể thực hiện.
Mặc dù khả năng một cuộc xung đột quân sự lớn là thấp, tiềm năng cho một cuộc đụng độ bạo lực trong vùng biển Đông ( biển Nam Trung Hoa ) trong tương lai gần là rất cao, qua hành vi của các quốc gia trong khu vực và cuộc chạy đua ngày càng tăng. Theo Council on Foreign Relations Trần H Sa Lược dịch. Các biện pháp hỗ trợ giảm rủi ro trong quan hệ Mỹ-Trung Các biện pháp hoạt động an toàn và mở rộng hợp tác hải quân giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc có thể giúp giảm nguy cơ của một vụ tai nạn tàu và máy bay. Việc tạo ra các Hiệp định Tư vấn Hàng hải Quân sự (MMCA) năm 1988 được dự định để thiết lập các "quy tắc đường đi " trên biển tương tự như các sự cố quan hệ Mỹ - Liên Xô ở Hiệp định trên biển (INCSEA), nhưng nó đã không được thành công. Cơ chế truyền thông có thể cung cấp một phương tiện để xoa dịu căng thẳng trong một cuộc khủng hoảng và ngăn chặn sự leo thang. Đường dây nóng chính trị và quân sự đã được thiết lập, mặc dù các quan chức Mỹ có ít sự tự tin rằng chúng sẽ đư...
Các cuộc biểu tình ở Hồng Kông đẩy nhanh những mâu thuẫn ở Bắc Kinh. Nhân viên an ninh chụp ảnh với chân dung của Mao sau buổi lễ hội ở Bắc Kinh kỷ niệm 70 năm Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. CreditNg Han Guan/Associated Press Bret Stephens….Ngày 3 tháng 10 năm 2019 Theo New York Times Trần H Sa lược dịch. Vào năm 2001, Gordon Chang, một luật sư người Mỹ đã dành nhiều năm ở Hồng Kông và Thượng Hải, xuất bản một cuốn sách dự báo trước có tựa đề là "Sự sụp đổ của Trung Quốc". Tại thời điểm đó, bài luận văn dường như là bất khả thi, nếu không phải là vô lý.
Hộ Tống hạm Nhật Tảo HQ 10 Toshi Yoshihara. Mùa Xuân 2016. Theo U.S. Naval War College Trần H Sa lược dịch (Xin lưu ý, các dử liệu về trận hải chiến Hoàng sa 1974 được tác giả nêu lên trong bài viết này đều dựa chủ yếu vào các tài liệu Trung quốc; tài liệu của phía VNCH không có, ngoại trừ một vài bài viết của các sĩ quan hải quân VNCH tham dự trận đánh được trình bày bằng Anh ngữ. Như tác giả đã cảnh giác "Hãy cẩn thận về phẩm chất của các nguồn tài liệu và phương pháp đang được đề cập......Do đó, những gì theo sau đó không phải là một quan điểm trung lập". Cho n ên, người dịch mạn phép được đánh dấu những nơi mà tài liệu TQ thiếu khách quan bằng dấu hỏi kèm mẫu tự, ví dụ (a?), mong người đọc hãy khách quan nhận xét lại theo quan điểm của mình; n goài ra c ác ghi chú nguồn tài liệu được tác giả đánh dấu bằng các số thứ tự rải rác trong bài viết xin theo dỏi trong bản gốc tiếng Anh ở link giới thiệu bên trên .) ----------------...