Những bằng chứng sai lệch trong tranh chấp biển Đông của Trung quốc.

Bản đồ Việt Nam được vẻ vào thế kỷ 16
đã ghi chú Hoàng Sa với 2 chử Cát Vàng


Những Bằng chứng Không Đáng tin và vấn đề Biển Đông, phần II

Bill Hayton. Theo Viet-studies

Những bằng chứng sai lệch

Không ngạc nhiên khi những tác phẩm đầu tiên bằng tiếng Anh về tranh chấp Biển Đông, được viết bởi những tác giả Trung Quốc và dựa trên nguồn tài liệu của Trung Quốc, ủng hộ cho luận điểm của phía Bắc Kinh. Nhận định của Cheng (tr. 277) là, "có lẽ là đủ để nói rằng lập trường của Trung Quốc đối với những quần đảo tranh chấp ở Biển Đông là 'yêu sách có lý hơn'". Chiu và Park (tr.20) kết luận rằng "so với Việt Nam, yêu sách của Trung Quốc đổi với chủ quyền Quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa tỏ ra có sức nặng hơn”. Quan điểm của học giả Shen được thể hiện một cách rõ ràng ngay từ tiêu đề các nghiên cứu của ông: 'International Law Rules and Historical Evidence Supporting China's Title to the South China Sea Islands’ (Các quy định của luật quốc tế và bằng chứng lịch sử ủng hộ cho quyền sở hữu của Trung Quốc đối với các quần đảo tại Biển Đông) và 'China's Sovereignty over the South China Sea Islands' (Chủ quyền của Trung Quốc đối với các quần đảo tại Biển Đông).

Những kết luận này vẫn còn ảnh hưởng đến tận bây giờ: ví dụ, chúng được trích dẫn trong các nghiên cứu của Li và Tan năm 2014. Tuy nhiên, nếu xem xét kĩ càng hơn cơ sở mà các học giả trên dựa vào để đưa ra nhận định của mình, chúng ta sẽ thấy đây là những nhận định thiếu sót một cách nghiêm trọng. Những bài báo trong những năm 1933, 1956 và 1974 không thể được xem như là cơ sở trung lập, đúng hơn đây là những tài liệu có sự thiên vị về lịch sử tranh chấp. Phạm vi của bài viết không đủ để đề cập hết những nhận định mà các tác giả đã đưa ra về những sự kiện trước thế kỷ 19. Tóm lại, những tác phẩm của Cheng, Chiu và Park, Samuels và Shen đều cùng chia sẻ một giả định: Trung Quốc vẫn luôn là một cường quốc về hải quân, thương mại và đánh bắt cá với ưu thế vượt trội tại Biển Đông. Ví dụ, Cheng nói về giả định này như sau, "đây luôn là một phần quan trọng của tuyến đường biển từ Châu Âu tới phương Đông kể từ thế kỷ 16, là nơi trú ẩn cho ngư dân từ Đảo Hải Nam, và từ lâu đã là cửa ngõ cho các thương nhân Trung Quốc từ nam Trung Quốc tới Đông Nam Á" (tr. 266).

Tuy nhiên, nếu nhìn vào lịch sử Biển Đông dưới lăng kính mang nhiều tính thực nghiệm hơn, chúng ta sẽ thấy tình hình ở khu vực vào thời điểm đó là vô cùng phức tạp. Công trình của các sử gia Leonard Blussé, Derek Heng, Pierre-Yves Manguin, Roderich Ptak, Angela Schottenhammer, Li Tana, Nicholas Tarling và Geoff Wade (31) hé lộ rằng việc sử dụng vùng biển trong thời kì tiền hiện đại hỗn tạp hơn nhiều. Cho đến tận thế kỷ thứ 10, các tàu và thương nhân Trung Quốc gần như không đóng vai trò gì trong hoạt động thương mại thông qua đường biển. Thậm chí sau đó, Trung Quốc chưa bao giờ là thế lực chiếm ưu thế vượt trội mà họ phải chia sẻ vùng biển với người Mã Lai, Ấn Độ, Ả rập và Châu Âu. Nghiên cứu của Franẹois-Xavier Bonnet (32), Ulises Granados (33) và Stein Tonnesson (34) cũng cho thấy hình thái tương tự tiếp tục cả trong thế kỷ 20.

Các tác phẩm trong giai đoạn đầu thế 20 cho thấy rằng nhà nước Trung Quốc thậm chí gặp rất nhiều khó khăn trong việc kiểm soát đường bờ biển của chính họ, và hoàn toàn không có năng lực áp đặt thẩm quyền đối với những quần đảo nằm cách đó hàng trăm dặm. Ví dụ, hai bài báo trên tờ The Times of London trong tháng 1/1908 mô tả sự bất lực của chính quyền Trung Quốc trong việc kiểm soát 'nạn cướp biển' tại sông Tây Giang - con sông nội địa chảy từ Quảng Châu. (35) Bài báo năm 1909 trên tờ The Examiner, một tờ báo của Úc, cho chúng ta biết rằng những người ngoại quốc ("2 người Đức, 1 người Nhật và vài người Mã Lai") đã bắt đầu khai mỏ trên Đảo Hải Nam mà phải rất lâu sau đó các nhà chức trách mới có thể phát hiện ra. (36) Bài báo cũng ghi nhận sự hiện diện của người ngoại quốc trên Quần đảo Hoàng Sa, những người này đã khắc tên mình vào một số cây trên đảo. (37) Những gì mà các tác phẩm này hé mở đó là một Biển Đông cho đến tận giữa thế kỷ 20 về cơ bản vẫn trong tình trạng không được quản lý, ngoại trừ một vài trường hợp can thiệp không liên tục của các chính phủ nước ngoài nhằm ngăn chặn nạn cướp biển. Chỉ đến năm 1909, sau vụ lùm xùm liên quan đến việc chiếm đóng Đảo Đông Sa (Pratas Island) của một doanh nhân khai thác phân chim người Nhật tên là Nishizawa Yoshiji, các nhà chức trách Trung Quốc mới bắt đầu quan tâm đến các quần đảo ngoài khơi. (38)

Phản đối hoạt động khảo sát của Đức

Tuy nhiên, trong cuốn sách của mình, Samuels (tr. 52) lập luận rằng phía Trung Quốc đã ngầm đưa ra yêu sách của mình đối với Quần đảo Trường Sa từ ngay năm 1883, khi mà - theo tác phẩm của ông - triều đình nhà Thanh chính thức lên tiếng phản đối chuyến thám hiểm được chính phủ Đức tài trợ tới Quần đảo Trường Sa. Khẳng định này dựa trên nguồn là xuất bản tháng 5/1974 của tờ báo Ming Pao Monthly có trụ sở tại Hồng Kông mà không dựa vào những bằng chứng bổ trợ khác. Chiu và Park (trong chú thích 47) thì quy về một bài báo được ấn bản 50 năm sau khi sự kiện được cho là đã xảy ra, cụ thể là ấn bản tháng 9/1933 của tờ Wai Jiao Yue Bao (Wai-chiao yủeh-pao) [Diplomacy monthly], (39) Heinzig cũng trích dẫn ấn bản của Ming Pao - tài liệu mà Samuels đã dựa vào để khẳng định rằng sau khi phía Trung Quốc đưa ra phản đối, Đức đã đình chỉ cuộc thám hiểm. Những tuyên bố trên có vẻ như khó có thể xảy ra bởi các chuyên gia bản đồ của Đức đã vẽ bản đồ Quần đảo Hoàng Sa (chứ không phải Trường Sa) trong khoảng thời gian từ năm 1881 đến 1883, hoàn thành công việc của họ và sau đó cho ra một hải đồ. Ấn bản tiếng Pháp của hải đồ đó được xuất bản năm 1885. (40)

Công ước Pháp - Thanh 1887

Samuels lập luận rằng Hiệp ước Pháp - Thanh 1887 được đàm phán bởi chính phủ Pháp, đại diện cho Bắc Kì, chính là thoả thuận quốc tế phân chia các đảo cho phía Trung Quốc (tr. 52). Cụ thể, Điều 3 của Hiệp ước quy định các đảo ở phía đông kinh tuyến Pa-ri 105°43’ thuộc về Trung Quốc. Nhưng Samuels và các tác giả khác đã không nhận ra rằng Hiệp ước này áp dụng cho Bắc Kỳ - khu vực phía bắc của Việt Nam bây giờ và do đó nó chỉ có thể áp dụng cho các đảo tại Vịnh Bắc Bộ. Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm sâu ở phía Nam, thuộc địa phận của An Nam và Nam Kỳ, và do đó không nằm trong phạm vi của Hiệp ước.

Bí ẩn của chuyến hành trình năm 1902

Ngoài ra còn một số nhầm lẫn về thời điểm chuyến đi đầu tiên của các quan chức Trung Quốc ra Quần đảo Hoàng Sa. Samuels (tr. 53), dựa vào bài báo năm 1974 trên tờ Ming Pao Monthly, đưa ra thời điểm là năm 1902 và chuyến thăm thứ 2 là vào năm 1908. Austin và Dzurek cũng đồng quan điểm với Samuels. Li và Tan (2014) cũng khẳng định về chuyến đi năm 1902, ngoài ra còn bổ sung thêm một chuyến đi khác vào năm 1907. Cheng thì cho rằng thời điểm là vào năm 1907, dựa trên một vài nguồn tham khảo trong năm 1933, (41) tương tự Chiu và Park cũng tham khảo tới ấn bản năm 1933 của tờ Kuo-wen chou-pao. Tuy nhiên, trái ngược với những nghiên cứu này - được viết sau sự kiện mà họ mô tả lần lượt là 26 năm và 72 năm, nếu kiểm tra thông tin báo chí vào thời điểm đó, chúng ta sẽ thấy rõ rằng không có chuyến hành trình nào diễn ra vào năm 1907, mà nó chỉ diễn ra vào năm 1909. (42) Nhà sử học Ưlises Granados cho rằng nguyên nhân của sự nhầm lẫn có thể là bởi quyết định về chuyến hành trình được đưa ra vào năm 1907 nhưng đến năm 1909 người ta mới thực hiện chuyến đi này. (43) Điều này cũng cần phải xác minh.

Chúng ta có lý do để tin rằng có sự nhầm lẫn về chuyến đi năm 1902. 35 năm sau đó, vào tháng 6/1937, trưởng Khu Hành chính số 9 của Trung Quốc, Huang Qiang, đã được cử đi trong một nhiệm vụ bí mật tới Quàn đảo Hoàng Sa - một phần là để kiểm tra xem có hiện diện của Nhật trên Quần đảo này hay không. Nhưng ông cũng có một nhiệm vụ khác - có thể thấy qua phụ lục mật kèm theo báo cáo của ông. Một đoạn trích của phụ lục này đã được ủy ban Địa Danh Tỉnh Quảng Đông in lại vào năm 1987. (44) Tàu của ông chở theo 30 cột mốc bằng đá - một số ghi năm 1902, một số ghi năm 1912 và một số khác ghi năm 1921. Trên Cồn Bắc, họ chôn 2 cột ghi năm 1902 và 4 cột ghi năm 1912; trên Đảo Linh Côn (Lincoln Island), đội tàu này chôn 1 cột ghi năm 1902, 1 cột ghi năm 1912 và 1 cột ghi năm 1921 và trên Đảo Phú Lâm (Woody Island), 2 cột ghi năm 1921. Cuối cùng, trên Đảo Đá (Rocky Island), họ chôn 1 cột mốc duy nhất ghi năm 1912. Các cột mốc này bị quên lãng cho đến tận năm 1974, khi mà, sau Hải chiến Hoàng Sa, chúng được tìm thấy và 'khám phá' này được đăng tải rộng rãi trên báo chí Hồng Kông - như Ming Pao Monthly. Chuyến đi năm 1902 không hề tồn tại này từ đó được đưa vào sử sách. Chỉ tới tận bây giờ nó mới bị nhà địa lý học người Pháp đang làm việc tại Manila - Francois-Xavier Bonnet - làm sáng tỏ.( 45)

Tên các đảo

Trong bài viết năm 1997, Shen khẳng định Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc 'đã thẩm tra lại tên các đảo ở Biển Đông' năm 1932. Trên thực tế ủy ban chính phủ đó chỉ đơn giản dịch hay phiên âm tên Tiếng Anh hoặc tên quốc tế hiện có. Kết quả là một vài những cái tên tiếng Trung tiếp tục được dùng để vinh danh các đội khảo sát người Anh vốn là những người đầu tiên lập bản đồ các thực thể tại đây. Trong quần đảo Hoàng Sa có Ling yang Jiao [Linh Dương Tiêu] - dịch từ Antelope Reef (Đá Hải Sâm) - vốn được đặt tên theo một tàu khảo sát Antelope của Anh.Jĩn yín Dão [Kim Ngân Đảo] - Money Island (Đảo Quang Ảnh) - không phải được đặt tên theo tiền và bạc - mà theo tên tổng giám sát William Taylor Money của Bombay Marine - đoàn tàu của Công ty Đông Ấn.

Phản đối ngoại giao năm 1933 ?

Một lập luận then chốt trong yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo Trường Sa là câu khẳng định thường xuyên rằng Trung Hoa Dân Quốc đã chính thức phản đối Chính Phủ Pháp sau khi nước này chính thức sáp nhập một số thực thể thuộc Quần đảo Trường Sa vào ngày 26/7/1933. Đúng là sự sáp nhập đã gây kinh ngạc trong chính phủ và làm dấy lên làn sóng dân tộc chủ nghĩa trong công chúng. Tuy nhiên, liệu có hay không một phản đối chính thức? Tao Cheng, trong bài nghiên cứu năm 1975, đã dẫn một bài báo trong Xin Ya Ya Xi Yue Kan [Hsin-ya-hsi-ya Yueh kan (New Asia Monthly)] xuất bản hai năm sau vụ sáp nhập đó - năm 1935. (46) Chiu và Park đề cập trong một chú thích rằng "có bằng chứng cho thấy Trung Quốc đã phản đối.” Họ tham khảo bài viết của Cho Min (47) trong Wai-chiao yúeh-pao (Diplomacy monthly) và một cuốn sách Các ghi chép chung về địa lý của các đảo phía Nam năm 1948 của Cheng Tzu-yũeh. (48) Tuy nhiên, họ thừa nhận rằng "Ngày Trung Quốc đưa ra phản đối không được ghi chép trong cuốn sách của Cheng, và cũng không được đề cập tới trong 'Bản ghi nhớ về bốn quần đảo lớn của Đài Loan ở Biển Đông’ do Bộ Ngoại Giao Đài Loan công bố vào tháng 2/1974. Xem Lien-ho-pao [United daily news], ấn bản nước ngoài, ngày 25/2/1974, tr. 3."

Việc Trung Quốc đưa ra phản đối vào năm 1933 cũng xuất hiện trong bài thuyết trình của Đại Sứ Freeman và trong bài của CNA - trong đó trích dẫn tác phẩm của Shen. Trong bài báo năm 1997, Shen trích dẫn hai nguồn: Cheng, và Chiu và Park - nhưng như chúng ta đã thấy - các tác giả này không nêu ra bất kỳ tài liệu tham khảo nào cho khẳng định của mình. Trong bài nghiên cứu năm 2002, Shen dẫn các bài viết của hội nghị chuyên đề của Cục Hải Dương Nhà nước Trung Quốc. (49) Những bài viết trên không thể tìm thấy bên ngoài Trung Quốc, nhưng có bằng chứng cho thấy rõ rằng thông tin trong những công trình đó là không chính xác.

Francois-Xavier Bonnet đã tìm được hồ sơ của Mỹ cho thấy rằng ngay sau tuyên bố của Pháp, chính phủ Trung Quốc đã yêu cầu viên lãnh sự của mình ở Manila, ông Kuan-ling Kwong đến hỏi chính quyền thực dân Mỹ về bản đồ có thông tin vị trí Quàn đảo Trường Sa. Nhờ đó chính phủ ở Nam Kinh mới hiểu được rằng những đảo này không thuộc Quần đảo Hoàng Sa và sau đó đã quyết định không đưa ra bất kỳ phản đối chính thức nào. (50) Mặc dù rất khó - chứng minh chắc chắn hoàn toàn là không có tuyên bố này, nhưng điều có nhiều khả năng xảy ra hơn là đã không có một phản đối chính thức nào từng được chính phủ Trung Quốc gửi tới Pháp. Trong tất cả các trang báo trên tờ Shen Bao, chúng ta không thấy bất kỳ đề cập nào tới một phản đối chính thức và cũng không tác giả nào có thể trích dẫn một văn bản phản đối từ nguồn tư liệu của chính phủ. Trong nghiên cứu của mình năm 2002, Jianmeng Shen chỉ đề cập tới ý định đưa ra phản đối của chính phủ. (51) Theo Bonnet, nguyên do của việc này có thể thấy rõ từ biên bản cuộc họp của Hội đồng quân sự Trung Hoa Dân Quốc vào ngày 1/9/1933, "Tất cả các nhà địa lý chuyên nghiệp của chúng ta nói rằng Đảo Tri Tôn (Triton Island) [thuộc Hoàng Sa] là đảo cực nam của lãnh thổ của chúng ta." (52) Trung Hoa Dân Quốc quyết định rằng họ không có yêu sách đối với quần đảo Trường Sa vào thời điểm đó và do đó không có gì để phản đối. Nghiên cứu của Chris Chung, một nghiên cứu sinh người Canada, chỉ ra rằng vào năm 1946, các hồ sơ của Trung Hoa Dân Quốc đã đề cập việc Trung Quốc phản đối chính thức vào năm 1933 như thể đó là sự thật. Điều này sau đó đã trở thành cách biện minh của Trung Quốc cho việc ‘đòi lại’ những đảo này từ Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ 2. (53)

Tóm lại, điều có vẻ đã xảy ra là trong khoảng thời gian 13 năm sau khi Pháp sáp nhập các đảo, giới cầm quyền Trung Hoa Dân Quốc đã thay đổi cách nhìn nhận của mình về những gì đã xảy ra vào năm 1933. Theo giả thuyết của tôi, các quan chức Trung Quốc đã nhầm một phản đối có thật năm 1932 về hoạt động của Pháp ở quần đảo Hoàng Sa với một phản đối không hề tồn tại trong năm 1933 về quần đảo Trường Sa.

Các cuộc khảo sát trong thập niên 1930

Trong bài nghiên cứu năm 2002, Shen cho rằng Trung Hoa Dân Quốc, "đã tổ chức ba đợt khảo sát quy mô lớn cùng các hoạt động đặt tên lại lần lượt vào năm 1932,1935 và 1947” (tr.107) nhưng không có hoạt động khảo sát nào được thực hiện ở quần đảo Trường Sa mà chỉ là việc sao chép lại bản đồ quốc tế. Điều này có vẻ là lý do tại sao Trung Hoa Dân Quốc đã dịch sai tên của James Shoal [Bãi Ngầm James] - ban đầu họ gọi thực thể này là Zengmu Tan. Zeng-mu chỉ đơn giản là phiên âm của từ James. Tan có nghĩa là bãi cát, trong khi thực tế thì ‘shoal’ là bãi ngầm. Với lỗi dịch thuật sơ đẳng này, một mảnh đáy biển đã trở thành một đảo và được coi là lãnh thổ cực nam của Trung Quốc cho đến tận ngày hôm nay - dù nó không tồn tại! Những cái tên đó đã được Trung Hoa Dân Quốc sửa đổi lại năm 1947 (lúc đó Zengmu Tan trở thành Zengmu Ansha - Ansha có nghĩa là rạn san hô ngầm) và Trung Quốc chỉnh lại một lần nữa năm 1983. (54 )

Tuyên bố Cairo

Shen (2002 tr. 139), và Li và Tan (2014 ) đồng quan điểm với Bộ Ngoại giao Trung Quốc khi cho rằng theo Tuyên bố Cairo 1943, phe đồng minh thời chiến đã trao các đảo ở Biển Đông cho Trung Quốc. Bài nghiên cứu của CNA bàn luận về khẳng định này và thẳng thừng bác bỏ nó trên cơ sở rằng, "Tuyên bố Cairo, như được củng cố bởi Tuyên Ngôn Potsdam, chỉ quy định rằng Trung Quốc sẽ thu hồi lại Mãn Châu, Formosa [Đài Loan], và rằng tàu chiến Mỹ đã đến Đảo Phú Lâm trong tháng 11/1945 nhưng không thông tin cụ thể về sự đầu hàng của quân đội Nhật. (59) Đảo Ba Bình đã bị máy bay Mỹ ném bom napan ngày 1/5/1945. (60) Máy bay B-52 đánh bom Đảo Ba Bình 6 lần chỉ trong một tuần giữa tháng 7. (61) Hầu như tất cả mọi thứ đã bị tàn phá. 6 tháng sau đó, Hải Quân Mỹ phái một toán trinh sát đến hòn đảo này. Toán quân này đổ bộ lên đảo ngày 20/11/1945 và nhận thấy đảo không có người ở - người Nhật đã bỏ đi. (62) Mãi cho đến hơn một năm sau đó - tháng 12/1946 mới có một phái đoàn Trung Hoa Dân Quốc dùng tàu chiến cũ của Mỹ (vừa được chuyển cho Hải Quân Trung Hoa Dân Quốc) đi tới được đảo này. Không có bằng chứng nào cho thấy quân đội Trung Quốc đã tiếp quản sự đầu hàng của Nhật tại Quần đảo Trường Sa.

KẾT LUẬN

Việc xem xét lại các bằng chứng với nguồn rõ ràng cho thấy lịch sử về các quần đảo ở Biển Đông là hoàn toàn khác biệt so với cái lịch sử mà đã được đề cập trong hầu hết các tài liệu tham khảo thường được sử dụng. Nhà nước Trung Quốc chỉ bắt đầu quan tâm tới các quần đảo này từ thế kỷ 20. Chưa có bằng chứng nào về việc có viên chức nhà nước Trung Quốc đến quần đảo Hoàng Sa trước ngày 6/6/1909. Chỉ đến tận năm 1933, Trung Quốc mới chú ý tới Quần đảo Trường Sa - và tại thời điểm đó Trung Hoa Dân Quốc đã quyết định không đưa ra yêu sách đối với quần đảo này. Vấn đề nóng trở lại ngay lập tức sau Thế Chiến thứ hai, do có những nhầm lẫn về sự kiện xảy ra vào năm 1933 và lần đầu tiên trong lịch sử một quan chức nước này đặt chân lên Quần đảo Trường Sa ngày 12/12/1946.

Năm 1933, 1956, 1974 và hiện nay cũng vậy, lịch sử về các quần đảo này được viết đi viết lại. Mỗi khi căng thẳng nổ ra, những người ủng hộ lập trường của Trung Quốc lại công bố các phiên bản mới của lịch sử vốn vẫn chỉ là tái chế những sai lầm trước đó và đôi khi lại bổ sung thêm nhiều sai lầm mới của chính họ. Khi mà các cách nhìn nhận này vượt qua rào cản ngôn ngữ và xuất hiện trong các tác phẩm tiếng Anh vào giữa thập niên 1970, nền móng lung lay của chúng lại tỏ ra có độ tin cậy cao đổi với những người mới tìm tòi lịch sử lần đầu. Chúng đã được in trên các tạp chí học thuật phương Tây và 'trở thành sự thật.' Nhưng việc xem xét lại các nguồn của chúng làm lộ ra điểm yếu cố hữu của các tác phẩm này.

Đã đến lúc các nhà sử học, luật gia và và các chuyên gia phân tích quan hệ quốc tế thôi sử dụng những bằng chứng vô căn cứ này làm cơ sở cho lập luận của họ. Đây là thời điểm tất cả cùng chung tay để xem xét lại các nguồn tài liệu gốc của nhiều khẳng định mà các tác giả này đưa ra cũng như đánh giá lại độ chính xác của chúng. Việc giải quyết các tranh chấp phụ thuộc vào điều đó.

1    2

_ Ghi Chú :

31 Ví dụ, xem Leonard Blussé, Chinese century; The eighteenth century in the China Sea region, Archipel 58: 107-30.1996; Derek Heng (2013) Trans-Regionalism and Economic CoDependency in the South China Sea: the Case of China and the Malay Region (tenth to fourteenth centuries AD), The International History Review, 35:3, 486-510; Pierre-Yves Manguin, The Southeast Asian Ship: An Historical Approach, Journal of Southeast Asian Studies, Vol. 11, No. 2 (tháng 9/1980), tr. 266-276; Roderich Ptak, The Northern Trade Route to the Spice Islands : South China Sea - Sulu Zone - North Moluccas (14th to early 16th century) Archipel. Vol 43, 1992. tr. 27-56; Angela Schottenhammer, The "China Seas" in world history: A general outline of the role of Chinese and East Asian maritime space from its origins to c. 1800. Journal of Marine and Island Cultures, (2012) 1, 63-86;
32 Bonnet, Geopolitics of Scarborough Shoal. Discussion Paper #14. IRASEC (Research Institute on Contemporary Southeast Asia), Bangkok. Tháng 11/2012
33 Ulises Granados, As China Meets the Southern Sea Frontier: Ocean Identity in the Making, 1902-1937. Pacific Affairs Vol. 78, No. 3 (Mùa thu, 2005), tr. 443-461
34 Cụ thể, xem, Stein Tonnesson, The South China Sea in the Age of European Decline. Modern Asian Studies. Vol 40, Issue 01. Tháng 2/2006, tr. 1-57 and An International History of the Dispute in the South China Sea, East Asia Institute Working Paper No. 71 (2001)
35 The Times "Chinese foreign relations" ngày 1 8 /1 /1 9 0 8 ; tr. 5; The Times "The recent piracy in Canton waters”. Ngày 25 /1 /1908 ; tr. 5;
36 The Examiner (Launceston, Tasmania) "China and her islands-keeping an eye on foreign nations" thứ 7 ngày 1 2 /6 /1 9 0 9 tr.8
37 The Examiner (Launceston, Tasmania) "China and her islands-keeping an eye onforeign nations" thứ 7 ngày 1 2 /6 /1 9 0 9 tr. 8
38 Xe Granados (2005), đã dẫn
39 Thông tin này được Chính quyền tỉnh Quảng Đông tiết lộ năm 1933. Xem Cho Min, "The Triangular Relationship Among China, France and Japan and the Question of Nine Islands in South Sea," Wai-chiao yiieh-pao [Diplomacy monthly], Vol 3, no. 3 (Peiping [Peking], ngày 15 /9 /1933 ); tr. 82, note 4.
40 Hydrographic Office, The Admiralty, The China Sea Directory, Vol. 2, London, 1889, tr.103. Được trích trong Bonnet 2012. Xem thêm David Hancox and Victor Prescott, A Geographical Description of the Spratly Islands and an Account of Hydrographic Surveys Amongst Those Islands, Maritime Briefing Voll No6, International Boundaries Research Unit, University of Durham 1995 tr. 36
41 Trích dẫn của Cheng: Saix, lies Paracels, La Geographie (tháng 11-12/1933), được in lại trong 3 Wai Chiao Ping Lun (Foreign Affairs Review), No. 5 (Hu Huan-Yung Chinese transl. tháng 5/1934), tr. 65-72;, tr. 67; Hu, Fa-jen Mou-tuo Hsi-Sha Ch'iin-tao [The French Plot to Snatch the Paracel Islands], 3 Wai Chiao Ping Lun (Foreign Affairs Review), No. 4 (tháng 4/1934), tr. 92.
42 "On Li Chun's Patrol of the Sea" Kuo-wen chou-pao [National news weekly], vol. 10, no. 33 (ngày 21 /8 /1933 ), tr. 6.
43 Li Zhun.Xunhaiji [On the Sea Circuit] được in lại trong Zhongguo nanhai zhuqundao wenxian huibian, vol. 8 [Collected works on the archipelagos of the South China Sea, vol. 8] (Taipei: Taiwan xuesheng shuju, 1975), tr. 1. Được trích trong Ulises Granados, As China Meets the Southern Sea Frontier: Ocean Identity in the Making, 1902-1937. Pacific Affairs Voi. 78, No. 3 (mùa thu 2005), tr. 443-461 tr.447
44 Committee of Place Names of the Guangdong Province [Guangdong sheng di ming wei yuan hui], Compilation of references of the names of all the South Sea islands [Nan Hai zhu dao di ming zi liao hui bian], Guangdong Map Publishing Company [Guangdong sheng di tu chu ban she], 1987, tr.289
45 Bài tham luận của Francois-Xavier Bonnet tại Hội thảo Biển Đông Nam Á (Southeast Asia Sea conference), Ateneo Law Center, Makati, Manila. Ngày 2 7 /3 /2 0 1 5 . (Có tại: http://opinion.inquirer.net/84307/a-chinese-strategy-manipulating-the-record)
46 Lu, Hsi-sha Ch’iin-tao Chih-yao [A Brief Note on the Paracel Islands], 9 Hsin Ya Hsi Ya Yueh Kan No. 6 (June 1935), tr. 50-54.
47 Cho Min, "The Triangular Relationship Among China, France and Japan and the Question of Nine Islands in South Sea," Wai-chiaoyiieh-pao [Diplomacy monthly], vol 3, no. 3 (Peiping [Peking], ngày 15 /9 /1933 ), tr. 78;
48 Cheng Tzu-yiieh, Nan-hai chu-tao ti-li chih-lũeh [General records on the geography of southern islands] (Shanghai: Shang-wu ying-shu-kuan, 1948), tr. 80
49 Jianming Shen, International Law Rules and Historical Evidence Supporting China's Title to the South China Sea Islands, 21 Hastings International and Comparative Law Review. 1-75 (1997) chú thích 160.
50 Fran^ois-Xavier Bonnet, Geopolitics of Scarborough Shoal, IRASEC Discussion Papers #14, Bangkok tháng 11/2012.
51 Jianming Shen, China's Sovereignty over the South China Sea Islands: A Historical Perspective, CHINESE JIL (2002), tr. 94-157
52 WaiJiao bu nan hai zhu dao dang an hui bian [Compilation by the Department of Foreign Affairs of all the records concerning the islands in the South Sea], Vol. 1, Taipeh, 1995, tr. 47-49. Được trích trong Franfois-Xavier Bonnet, Geopolitics of Scarborough Shoal. Discussion Paper #14. IRASEC (Research Institute on Contemporary Southeast Asia), Bangkok. Tháng 11/2012
53 Xem Ministry of Foreign Affairs, "Nansha Qundao [iặĩĩHlặ Jo, or the "Spratly Archipelago”],” The Historical Archives of the Department of Modern History in the Academia Sinica [Zhongyang Yanjiuyuan Jindaishi Yanjiusuo Dang’an Guancang JS tt He], file series 019.3/0012, file 031. Điện tín chính thức của Bộ Ngoại giao Trung Hoa Dân Quốc đề ngày 24 /8 /1946 . Và Ministry of Foreign Affairs, "Nansha Qundao [j#fcN lặ|o, or the "Spratly Archipelago”]," The Historical Archives of the Department of Modern History in the Academia Sinica [Zhongyang Yanjiuyuan Jindaishi Yanjiusuo Dang’an Guancang Ha IS ItH i], file series 019.3/0012, file 145-146. Điện tín chính thức của Trung Hoa Dân Quốc cũng đề năm 1946, nhưng không rõ tháng bao nhiêu.
54 Chen Keqin, Zhong guo nan hai zhu dao (China’s south sea islands) Hainan International Press and Publication Center, Haikou 1996
59 Ta Kung Pao [Da Gong Bao] (The Impartial) (Tianjin), ngày 1 /2 /1 9 4 7 . Được trích trong Granados (2006).
60 United States Pacific Fleet, Patrol Bombing Squadron 128. Action report ngày 3 /5 /1945 .
61 Kit c. Carter and Robert Mueller, US Army Air Forces in World War II Combat Chronology 1941-1945. Center for Air Force History, Washington DC, 1991
62 World War II War Diaries uss Sea Fox http://w w w .fold3.eom /im age/#301745082: uss CABEZON http ://www.fold3.eom/image/#301980652: uss BUGARA http://www .fold3.eom /im age/#302085830