Chính sách của Nga ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong bối cảnh khủng hoảng Ukraina.



Tổng thống Nga Vladimir Putin trong chuyến thăm Trung Quốc (kremlin.ru)


Samuel Charap, John Drennan, Yevgeny Kanaev, Sergey Lukonin, Vasily Mikheev, Vitaly Shvydko, Kristina Voda, Feodor Voitolovsky thuộc Viện Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế. Mùa Xuân 2016. Trích từ Mỹ và Nga ở Châu Á Thái bình dương

Trần H Sa lược dịch

III. Chính sách của Nga ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong bối cảnh khủng hoảng Ukraina. 

Moscow đã bắt đầu đào sâu hợp tác kinh tế và chính trị với các nước láng giềng phía đông của nó (một phần để cân bằng và một phần để bổ sung cho chính sách của Nga đối với phương Tây) trước sự sụp đổ của Liên bang Xô viết. Vào cuối những năm 1980, lãnh đạo Liên Xô Mikhail Gorbachev đã đưa ra ba quyết định quan trọng, qua đó đặt nền tảng cho chiến lược của Nga đối với Châu Á-Thái Bình Dương. Việc đầu tiên là để 'mở' khu vực Viễn Đông 'bị đóng', bao gồm cả Vladivostok, vốn đã bị cô lập khỏi thế giới bên ngoài trong nhiều thập kỷ do lo ngại an ninh. Thứ hai là việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc sau chuyến thăm của Gorbachev đến Bắc Kinh vào năm 1989. Thứ ba là thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức giữa Moscow và Seoul trong tháng 9 năm 1990, như một phần trong nỗ lực lớn hơn để đa dạng hóa các mối quan hệ trong khu vực.

Nga gia nhập APEC vào năm 1998. Tuy nhiên, hợp tác kinh tế sâu sắc hơn giữa Nga và các nước châu Á-Thái Bình Dương vẫn còn nhiều hạn chế. Vai trò chủ chốt của thị trường châu Âu đối với các công ty của Nga và chính sách đối ngoại của Nga tập trung vào vùng Châu Âu - Đại tây dương vẫn chiếm ưu thế cho đến vài năm qua. Kết quả này có thể được giải thích - một mặt - bởi những giới hạn thực tế (thiếu cơ sở hạ tầng thích hợp ở vùng Viễn Đông của Nga, ít cơ hội cho việc xuất khẩu năng lượng và nguyên liệu thô sang các thị trường châu Á, v...v...) , và bởi chủ trương lấy Châu Âu làm trọng tâm trong giới chóp bu doanh nghiệp và chính trị Nga, ở mặt khác.

Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng trong quan hệ giữa Nga với phương Tây bắt đầu vào năm 2014 đã làm gia tăng đáng kể tầm quan trọng tương đối của khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong chính sách đối ngoại của Nga. Những suy nghĩ mơ hồ về những mong muốn đa dạng hóa các mối quan hệ và các thị trường mà trước đây đã từng là động lực cho tính phỏng chừng của Nga về 'bước ngoặt sang phía Đông' nhường chỗ cho sự cần thiết, khi Nga phải đối mặt với nguy cơ an ninh ngày càng tăng ở phía tây, một cơ chế trừng phạt mở rộng và làm sâu sắc thêm cuộc đối đầu chính trị với Mỹ và EU.

Các nhà lãnh đạo Nga tương đối nhanh chóng nhận ra rằng những kỳ vọng ban đầu của nó đối với mối quan hệ mới với châu Á là không thực tế, và nhiệm vụ của việc định hướng lại các mối quan hệ đòi hỏi sự cam kết lâu dài và một kế hoạch toàn diện. Tuy nhiên, mục tiêu 'chuyển sang phía Đông' vẫn là một ưu tiên. Kể từ khi điện Kremlin coi Trung Quốc, Ấn Độ và các nước Đông Nam Á là những đồng minh chiến lược của mình trong việc xây dựng một 'trật tự thế giới mới' và giảm bớt sự nổi bật của các tổ chức quen thuộc ở Mỹ và châu Âu - Đại tây dương, 'chuyển sang phía Đông' của nó không chỉ là một động cơ ngắn hạn nhằm giảm thiểu tác động của các lệnh trừng phạt của phương Tây, mà thay vào đó là một phần của một chiến lược rộng lớn hơn.

Cách tiếp cận ngoại giao và chính trị của Nga đối với cấu ​​trúc an ninh khu vực châu Á-Thái Bình Dương dựa trên tiền đề, mà hệ thống liên minh của Mỹ đang thịnh hành trở nên không phù hợp với môi trường kinh tế và an ninh hiện đại. Các quan chức Nga thừa nhận rằng sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Châu Á-Thái Bình Dương và ở trong các hệ thống liên minh song phương của Mỹ đã đóng một vai trò ổn định và cân bằng trong quá khứ. Tuy nhiên, họ cho rằng những thay đổi cơ bản trong khu vực đòi hỏi một cách tiếp cận mới. Các quan chức Nga kêu gọi một hệ thống cân bằng hơn và toàn diện hơn dựa trên nguyên tắc bình đẳng và 'an ninh bất khả phân', loại quy tắc mà một quốc gia không thể tăng cường an ninh riêng của mình bằng cách gây hại an ninh của một quốc gia khác. Theo quan điểm của Moscow, cấu ​​trúc khu vực mới nên bao gồm không chỉ có Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc mà còn có cả Nga, Trung Quốc và các quốc gia thành viên ASEAN .

Nga-Trung Quốc

Trong tương lai gần, sự phát triển quan hệ Nga-Trung sẽ bị ảnh hưởng bởi các mối quan hệ đang xấu đi của Nga với phương Tây, và bởi các chính sách mới được thực hiện của nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình. Hơn nữa, tốc độ và quy mô phát triển mối quan hệ thương mại và đầu tư của họ sẽ phụ thuộc vào mức độ mà suy thoái kinh tế của Trung Quốc đang gây cản trở cho quá trình này. Đã có những câu hỏi, ví dụ, về việc liệu các giao dịch năng lượng gần đây đã ký giữa hai nước sẽ có được thực hiện hay không, do nhu cầu suy giảm về năng lượng tại Trung Quốc, khi Bắc Kinh quản lý các nhiệm vụ hết sức nặng nề trong việc chuyển đổi mô hình kinh tế của đất nước trong những thập kỷ tới.

Sự tham gia của nước ngoài ngày càng được nhìn ở Bắc Kinh không chỉ là một kết quả của, mà còn là một trong những yếu tố chính góp phần vào tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc. Trung Quốc đang cố gắng bù đắp cho sự sụt giảm tốc độ tăng trưởng của nó bằng cách xuất khẩu vốn và năng lực dư thừa từ khu vực nhà nước. Những chiến lược toàn diện như Một Vành Đai, Một Con Đường (OBOR) ở lục địa Âu Á, Đông Nam Á và Đông Á, và đầu tư ra nước ngoài trong các 'chợ biên giới' của châu Phi và châu Mỹ La tinh, nhu cầu 'đổi mới chính sách đối ngoại' để tạo ra những xu thế có lợi cho việc mở rộng vốn của Trung Quốc. Như với những chuyến viếng thăm trước đây ở châu Phi và châu Âu, các chuyến đi gần đây của Tập Cận Bình đến Trung Đông, các hội nghị thượng đỉnh BRICS, các cuộc họp của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO) ở Trung Á, và Nam Á đã được đi kèm với các khoản đầu tư lớn và những hỗ trợ công nghệ để phát triển cơ sở hạ tầng giao thông vận tải. Một sự củng cố 'vùng ảnh hưởng của Trung Quốc' mới trong khu vực đang xảy ra.

Đổi mới chính sách đối ngoại của Bắc Kinh tạo ra những cơ hội mới cho nước Nga. Tuy nhiên, không có lời giải thích thoả đáng của Trung Quốc về các mục tiêu và kế hoạch của nó, chúng có thể gây thêm nỗi lo ngại rằng sự hiện diện trên tầm quốc tế ngày càng tăng của Trung Quốc và chính sách đối ngoại quyết đoán hơn của nó có thể hạn chế ảnh hưởng của Nga. Lúc đầu, Nga có thể không chú ý nhiều đến những đe dọa như vậy đối với lợi ích của mình trong ánh sáng của cuộc khủng hoảng hiện tại với phương Tây. Tuy nhiên, nếu quan hệ giữa Nga và phương Tây bình thường hóa, vấn đề về những biện pháp đối phó với sự phát triển sẽ phát sinh, để bảo đảm lợi ích của Nga trong bối cảnh ảnh hưởng toàn cầu của Trung Quốc ngày càng tăng.

Về mặt chiến lược, những thách thức chính cho quan hệ Nga-Trung là kết quả của sự tăng trưởng kinh tế mất cân bằng giữa hai nước. Trung Quốc đang củng cố vị thế của nó như là nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới; các tập đoàn đa quốc gia của Trung Quốc đang ngày càng tiếp cận thị trường toàn cầu, mua lại các công ty nước ngoài và cạnh tranh trực tiếp với các đối tác Mỹ, châu Âu và Nhật Bản.

Về mặt quân sự, Trung Quốc đang dần thu hẹp khoảng cách với Nga về những khả năng thông thường và, theo một số chuyên gia Nga, cũng trong cả vũ khí hạt nhân. Một cuộc xung đột quân sự giữa Nga và Trung Quốc là vô cùng khó xảy ra, và quan hệ quân sự với quân sự của Nga-Trung Quốc đã gia tăng đáng kể, với những buổi tập trận chung lớn và thường xuyên. Nga tiếp tục xem Mỹ và NATO là những kẻ thù quân sự tiềm năng của chính mình, trong khi Trung Quốc nhìn sang Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ và Việt Nam là những mối đe dọa chính của nó.

Con đường chính sách đối ngoại của Trung Quốc hiện nay cho thấy rằng Trung Quốc đang ngày càng tích cực đề xuất các phiên bản của riêng nó về trật tự toàn cầu và trật tự khu vực (đặc biệt là ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương) và khẳng định lợi ích của mình chặt chẽ hơn. Những hành động này của Trung Quốc có thể thay đổi toàn bộ 'cơ sở vật chất' mối quan hệ Nga-Trung trong tương lai. Nhiều chuyên gia Trung Quốc tin rằng một sự thay đổi trong cân bằng chiến lược có lợi cho Trung Quốc, sẽ làm trầm trọng thêm những căng thẳng trong mối quan hệ Nga - Trung, làm tăng sự mất lòng tin lẫn nhau.

Để tránh hậu quả này, Bắc Kinh đã có những bước gia tăng sự tin tưởng vào những cấp độ chính trị và chính trị-quân sự, bao gồm những chuyến viếng thăm nhà nước tới Bắc Kinh và Moscow để tham dự các sự kiện kỷ niệm tại lễ kỷ niệm 70 năm kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai, tương ứng hồi tháng Năm và tháng Chín năm 2015; tiếp tục đối thoại chính trị về các vấn đề an ninh ở Đông Bắc Á, bao gồm những tư vấn về vấn đề hạt nhân của Bắc Triều Tiên; và thường xuyên tập trận chung. Hơn nữa, chính phủ Trung Quốc tích cực thảo luận với Moscow về tương lai của châu Á, cũng như vai trò lãnh đạo của Nga và Trung Quốc trong một cấu ​​trúc an ninh mới của châu Á. Ngoài ra, những cuộc thảo luận với Mỹ hiện nay, là một chương trình nghị sự trong những tham vấn chính trị và chiến lược của Nga-Trung Quốc . Các biện pháp này nhằm mục đích giảm thiểu sự mất lòng tin và nghi ngờ ở Moscow rằng, trong quan hệ Mỹ-Trung có 'cái gì đó đã được thực hiện đằng sau lưng của Nga' .

Đối với Nga, quan hệ gần gũi hơn với Trung Quốc sẽ giúp giảm thiểu các tác động từ các lệnh trừng phạt của phương Tây. Về kinh tế, Trung Quốc sẵn sàng tiếp tục hợp tác trong lĩnh vực năng lượng (lợi dụng thực tế rằng Nga coi Trung Quốc là một thị trường bổ sung quan trọng thay thị trường năng lượng ở châu Âu) và đầu tư vào giao thông vận tải và cơ sở hạ tầng thương mại của Nga, cũng như ở các vùng Bắc Cực của Nga.

Ví dụ nổi bật nhất xảy ra hồi tháng 5 năm 2014, khi, sau hơn một thập kỷ đàm phán, tập đoàn năng lượng khổng lồ do nhà nước kiểm soát của Nga, Gazprom, đã ký Hiệp định khung với CNPC của Trung Quốc để xây dựng đường ống Power of Siberia, trong đó sẽ đưa khí đốt tự nhiên từ Đông Siberia đến Đông Bắc Trung Quốc. Thỏa thuận này quy định phân phối 38 tỷ mét khối khí đốt trong vòng 30 năm. Một số đã có giá trị thỏa thuận đạt hơn 400 tỉ $. Trong tháng 12 năm 2015, nhà sản xuất khí đốt của Nga, Novatek, một trong những công ty đầu tiên bị lệnh phạt của Mỹ trong năm 2014, đã bán 9,9% cổ phần trong dự án khí thiên nhiên hóa lỏng Yamal cho Quỹ Con đường tơ lụa của Trung Quốc ( tập đoàn Yamal đã bao gồm CNPC, trong đó có 20% cổ phần). Cũng trong tháng mười hai, Sinopec đã mua lại 10% cổ phần của công ty Sibur chuyên chế biến khí đốt và hóa dầu của Nga. Thỏa thuận này được ước tính trị giá 1.3 tỷ $. Những dự án đầy hứa hẹn khác bao gồm việc xây dựng một tuyến đường sắt cao tốc từ Moscow đến Kazan (tổng vốn đầu tư ước đạt 5 tỷ $) và các hành lang vận tải quốc tế Châu Âu-Tây Trung Quốc, như một phần của sáng kiến ​​Một Vành đai, Một Con đường (Obor).

Tổng thống Nga Vladimir Putin với Thủ tướng Trung Quốc Tập Cận Bình (kremlin.ru)
 Trung Quốc coi đó là một cơ hội để điền vào các chổ thích hợp trong thị trường Nga - trong các lĩnh vực như sản xuất ô tô, điện tử, thiết bị y tế và khoa học - trước đây bị chiếm lĩnh bởi các công ty phương Tây.

Trong chuyến thăm vào tháng 5 năm 2015 của Tập Cận Bình đến Moscow, hai nước đã ký Tuyên bố chung về hợp tác giữa Liên minh Kinh tế Á-Âu (EEU) và Obor. Một nhóm làm việc chung trong việc tìm kiếm các lĩnh vực hợp tác giữa hai dự án hội nhập đã được thành lập. Nhóm làm việc tập trung vào một số vấn đề chính, bao gồm: thúc đẩy thương mại và hợp tác đầu tư; tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm; khuyến khích đầu tư; hợp tác phát triển công nghiệp; triển khai thực hiện các dự án đầu tư liên doanh lớn; và tạo ra các khu công nghiệp chung và khu kinh tế ngang qua biên gìới. Các bên đồng ý tăng cường hợp tác trong lĩnh vực hậu cần quân sự, cơ sở hạ tầng giao thông và thực hiện các bước theo hướng hài hòa mậu dịch và những quy tắc đầu tư. Sự hợp tác này đã giảm bớt những lo ngại của Nga về sự tham gia của Trung Quốc ở Trung Á qua Obor và chứng minh sự sẵn sàng của Trung Quốc để tham gia với EEU, một dự án ưu tiên đối với Tổng thống Putin.

Quan hệ đối tác chiến lược sâu sắc của Nga-Trung gây ra những rủi ro nhất định cho Nga. Trung Quốc là một cầu thủ toàn cầu trẻ trung mà vẫn chưa tìm hiểu vai trò nhà lãnh đạo toàn cầu, và thường hành động như một 'người mới bắt đầu quyết đoán'. Khi ảnh hưởng chính trị của Trung Quốc tăng theo thời gian, Bắc Kinh có thể hành động quyết đoán hơn trong tranh chấp khu vực và đòi hỏi sự hỗ trợ lớn hơn từ Nga cho những chính sách của mình, theo cách đó, có thể mâu thuẫn với lợi ích của Nga. Nga có thể phải thích ứng với những đòi hỏi này, thực hiện những nhượng bộ vì lợi ích bảo tồn mối quan hệ với Trung Quốc.

Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng cường vị thế của mình trong sân sau của Nga. Giữa cuộc chiến tranh trừng phạt với phương Tây, Nga có thể, chuyển hướng đến tham gia có lợi trong dự án Obor của Trung Quốc, thích nghi với vai trò mới là 'đối tác cấp thấp' của Trung Quốc.

Ngoài kinh tế, Trung Quốc cũng là một đối tác chính trị quan trọng hơn dành cho Nga so với Nga dành cho Trung Quốc. Sự mất cân bằng như vậy sẽ buộc Nga phải chấp nhận vai trò mở rộng của Trung Quốc không chỉ ở Trung Á, Nam Caucasus và Đông Âu trong tương lai gần, mà còn ở cả bên trong nước Nga thông qua sự phát triển chi nhánh Thái Bình Dương - Đại Tây Dương của Obor. Bá chủ 'Phương Đông' cuối cùng đã có thể thay chổ một bá chủ 'Phương Tây' (tức là, Mỹ), do Trung Quốc tất nhiên hoạt động quyết đoán hơn trong việc bảo vệ lợi ích của mình. Trong trường hợp mối quan hệ Mỹ-Trung Quốc xấu đi, Trung Quốc có thể yêu cầu Nga phải có những hành động để chống lại Mỹ, qua đó có thể leo thang xung đột của nó với phương Tây nhiều hơn nửa.

Trong khi đã có cuộc tranh luận ở phương Tây về mối đe dọa của một trục chiến lược Nga-Trung Quốc, triển vọng cho một liên minh đúng nghĩa thì không rỏ ràng. Cuộc khủng hoảng ở Ukraine chắc chắn củng cố hợp tác Nga-Trung Quốc về quản trị toàn cầu và các vấn đề chính trị khác, khi cả Moscow lẫn Bắc Kinh chia xẻ một thế giới quan tương tự, đặc biệt là về vấn đề chủ quyền, không gian mạng và những lo ngại ở lĩnh vực không gian.

Cả hai chính phủ đang chếnh choáng cho phép tuyên truyền về huyền thoại của một liên minh Trung-Nga ; ảo giác về một khối thống nhất có thể tạo nên vốn liếng chính trị tầm quốc tế, tuy nhiên, trong thực tế, không bên nào muốn bị lôi kéo vào cuộc xung đột của người khác, cho dù chúng ở ngoại vi Đông Âu của Nga hay ở các vùng biển Đông và biển Hoa Đông. Theo quan điểm vượt trội ở Trung Quốc, việc thành lập một liên minh chính trị và quân sự Nga-Trung Quốc là không thực tế, vì nó không phù hợp với lợi ích của Trung Quốc: nó không có lợi cho Trung Quốc khi để bị lôi kéo vào một cuộc xung đột với Mỹ vì một quốc gia khác.

Trung Quốc đang xử dụng 'chuyển sang phía Đông' của Nga cho mục tiêu chiến lược của riêng mình. Trung Quốc từ chối tuân thủ các biện pháp trừng phạt của phương Tây không phải là dựa trên tinh thần đoàn kết chính trị với Nga, mà đúng hơn là một nỗ lực để thúc đẩy lợi ích của các doanh nghiệp Trung Quốc. Các doanh nghiệp Trung Quốc nhìn thấy một cơ hội để mở rộng sự hiện diện của họ và gia nhập vào những phân đoạn thị trường mới ở Nga, đặc biệt trong công nghệ thông tin, công nghiệp ô tô, chế tạo máy và sản xuất thiết bị công nghệ cao, phát triển cơ sở hạ tầng.

Nga-Nhật Bản, Hàn Quốc và Bắc Triều Tiên

Tổng thống Nga Vladimir Putin với Thủ tướng Shinzo Abe của Nhật Bản (kremlin.ru)
 Chính sách đối ngoại truyền thống của Nga đối với Nhật Bản, Hàn Quốc và Bắc Triều Tiên, nhằm thúc đẩy hợp tác với Tokyo và Seoul, và chống lại chương trình hạt nhân của Bình Nhưỡng, đang chịu áp lực ngày càng tăng từ sự suy giảm liên tục trong quan hệ Mỹ-Nga. Quan hệ chính trị Nga-Nhật Bản đã xuống cấp, khi Nhật Bản vẫn là một đồng minh của Mỹ và là thành viên của G7 và cũng đã áp đặt lệnh trừng phạt Nga vì hành động của họ ở Ukraine (mặc dù trong một phạm vi hạn chế hơn nhiều so với các biện pháp trừng phạt của EU hoặc Mỹ). Việc thảo luận về các vấn đề truyền thống trong mối quan hệ (các tranh chấp lãnh thổ, liên minh Mỹ-Nhật Bản, vv) đã trở nên hơi căng thẳng hơn.

Đồng thời, quan hệ Nga-Nhật Bản đang lạnh đi sẽ xảy ra trên một quy mô nhỏ hơn so với sự suy giảm mối quan hệ của Nga với phương Tây. Doanh nghiệp Nhật Bản và chính sách kinh tế đối ngoại của Tokyo sẽ tiếp tục chuyển động trong một nỗ lực nhằm giảm thiểu sự tham gia của Nhật Bản trong cơ chế trừng phạt chống lại nước Nga, trong khi vẫn giữ cổ phần của Nhật Bản trên thị trường Nga, cùng với ảnh hưởng kinh tế của Nhật Bản bên trong nước Nga. Hơn nữa, Tokyo xem cuộc khủng hoảng Ukraine là một vấn đề của châu Âu, và nhìn thấy mối quan hệ của nó với Moscow là trung tâm để bảo vệ lợi ích của mình trong khu vực. Như vậy, Thủ tướng Abe đã tiến hành các bước để ngăn chặn mối quan hệ khỏi phải xấu đi hoàn toàn.

Quan hệ của Nga với Hàn Quốc sẽ bị ảnh hưởng ít hơn so với Nhật Bản. Seoul đã chống lại áp lực để áp đặt lệnh trừng phạt chống lại nước Nga, bị thúc đẩy bởi nhu cầu cần sự ủng hộ của Moscow chống lại Bình Nhưỡng. Kết quả là, các công ty Hàn Quốc có thể điền vào chổ thích hợp mà các công ty phương Tây đã bỏ rơi như là một kết quả của các biện pháp trừng phạt trong các lĩnh vực như ô tô, đóng tàu và thiết bị điện tử.

Hàn Quốc đã duy trì đối thoại thường xuyên với Nga vừa song phương vừa trong các định dạng 'đàm phán sáu bên' (cho đến khi nó bị đình chỉ). Seoul đã sẵn sàng cho các cuộc thảo luận với Moscow, nhưng cho đến thời gian gần đây đã không còn hỗ trợ những định dạng mới chẵng hạn như một định dạng 'năm bên' (không có Bắc Triều Tiên) hoặc một nhóm ba bên trong đó gồm có Nga, Hàn Quốc và Trung Quốc, ba nước giáp biên giới Bắc Triều Tiên. Tuy nhiên, Trung Quốc và Mỹ vẫn là những đối tác chính của Hàn Quốc. Trung Quốc thì quan trọng trơng chiến lược 'tham gia với' và 'gây đòn bẩy' đối với Bắc Triều Tiên, trong khi Mỹ là nhà bảo đảm an ninh của Hàn Quốc.

Moscow thường không nhận thức liên minh Mỹ-Hàn Quốc - không giống như đối tác Nhật Bản của mình - là một mối đe dọa đối với an ninh của Nga, như nó đã làm trong Chiến tranh Lạnh. Nếu khủng hoảng trong quan hệ Mỹ-Nga đi đến một kết thúc, liên minh sẽ không là điều gây khó chịu đáng kể. Từ quan điểm của Moscow, việc tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau và duy trì an ninh trên bán đảo Triều Tiên là những ưu tiên hàng đầu trong quan hệ Nga-Hàn Quốc. Những vấn đề chính trị chính trong mối quan hệ - Bắc Triều Tiên, liên minh Mỹ-Hàn Quốc và triển vọng thống nhất đất nước Triều Tiên - không là vấn đề bức xúc và không ảnh hưởng đến các khía cạnh khác của mối quan hệ. Liên quan đến khái niệm đề xuất của Seoul về 'sáng kiến lục địa Á-Âu', Moscow hiểu nó như là một nỗ lực để thực hiện một chính sách ngoại giao cân bằng hơn và đa phương hơn, mà qua đó không chỉ xem xét ưu tiên của Mỹ, mà còn cả lợi ích của Trung Quốc trong khu vực.

Nếu không có sự hỗ trợ của Trung Quốc, sẽ không thể thực hiện được thống nhất đất nước Triều Tiên theo kế hoạch của Hàn Quốc. Về vấn đề này, Moscow tin rằng Seoul đồng thời phát triển quan hệ với Nga để cho phép sự linh hoạt ngoại giao lớn hơn, tối ưu hóa chính sách đối ngoại và thực hiện phán quyết an ninh. Nga cho rằng nó đã được trao một vị trí quan trọng trong 'Sáng kiến lục địa Á-Âu​​' của Seoul như là một phương tiện cho Hàn Quốc giảm sự phụ thuộc vào Trung Quốc.

Chính quyền Park Geun-hye, không giống như những người tiền nhiệm của mình, có thể tích cực hơn trong việc tìm kiếm sự ủng hộ của Moscow về vấn đề thống nhất đất nước Triều Tiên, cái mà không có khả năng được coi là một mối đe dọa đến lợi ích của Nga. Moscow xem việc thống nhất đất nước như là một triển vọng từ xa và chưa phát triển thành một quan điểm chính thức về vấn đề. Có những quan điểm khác nhau giữa các chuyên gia Nga về chủ đề này. Một số xem thống nhất là một kết quả mà sẽ củng cố an ninh vùng Viễn Đông của Nga và đưa khu vực đến với nhiều cơ hội kinh tế hơn, trong khi những người khác tập trung vào các mối đe dọa tiềm tàng từ các cơ sở hạ tầng quân sự của Mỹ đang di chuyển về phía biên giới của Nga, và những rủi ro từ một nước Triều Tiên thống nhất dịch chuyển gần hơn với nền kinh tế Trung Quốc .

Một số chuyên gia ở Nga gần đây đã bắt đầu kêu gọi hợp tác Nga-Hàn Quốc trên việc thống nhất đất nước. Họ tin rằng những xu hướng hiện nay trong khu vực cho thấy việc thống nhất đất nước không chỉ là không thể tránh khỏi, mà còn có thể xảy ra sớm hơn so với Hàn Quốc và các cường quốc khác trong khu vực mong đợi. Hơn nữa, họ lập luận rằng một quá trình dần dần thống nhất sẽ diễn ra một cách hòa bình chỉ khi nó được hỗ trợ bởi tất cả các cường quốc khu vực, bao gồm cả Nga. Ngoài ra, sự tham gia của Nga trong việc chuẩn bị và cuối cùng thực hiện dự án này sẽ giúp ngăn chặn sự xuất hiện các mối đe dọa tiềm năng đối với lợi ích của nó. Sự tham gia của Nga sẽ cho phép Moscow thể hiện nó tiếp tục quan tâm đến sự ổn định trong khu vực Đông Á, và có thể làm sâu sắc thêm việc đầu tư kinh tế và chính trị của mình ở bán đảo Triều Tiên trong thời gian dài.

Một vấn đề quan trọng trong các mối quan hệ kinh tế Nga-Hàn Quốc là sự thống trị của các tập đoàn nhà nước Nga trong các dự án đầu tư tiềm năng và liên doanh, trong khi các hoạt động của các công ty tư nhân - và đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ - thì khá thấp. Các doanh nghiệp Hàn Quốc và chính phủ vẫn thận trọng trong việc đối phó với các doanh nghiệp nhà nước của Nga, vì các hoạt động của họ thiếu tính minh bạch. Vấn đề này cho thấy không có dấu hiệu cải thiện. Kết quả là, tiềm năng để đầu tư lẫn nhau là quá ít.

Một số người ở Moscow tin vào những ảo ảnh của mối quan hệ được cải thiện với Bắc Triều Tiên. Bắc Triều Tiên đã được miêu tả như là một phần của 'phương Đông' mà không hỗ trợ lệnh trừng phạt của phương Tây đối với Nga. Tuy nhiên, sự xuất hiện của mối quan hệ được cải thiện với Bình Nhưỡng sẽ không có thực chất trong trung hạn. Chương trình hạt nhân của Bắc Triều Tiên là hoàn toàn không thể chấp nhận được đối với Nga; nó loại bỏ quyền tự do cơ động của Moscow trong quan hệ với Bình Nhưỡng.

Về kinh tế, hệ thống toàn trị của Bắc Triều Tiên không sẵn sàng hợp tác dựa trên các tiêu chuẩn toàn cầu đã được chấp nhận. Trong thực tế, các sáng kiến ​​kinh tế song phương tóm gọn những nhu cầu của Bình Nhưỡng ở chổ hỗ trợ tài chính lớn hơn. Đối với Nga, điều này hiện nay là không thể, khi các biện pháp hỗ trợ kinh tế được tập trung vào trợ cấp cho Crimea.

Nếu các cuộc đàm phán sáu bên về Bắc Triều Tiên tiếp tục, Nga có thể làm mềm quan điểm của nó đối với Bình Nhưỡng. Trên thực tế, Nga có thể kêu gọi xóa bỏ lệnh trừng phạt đối với Bắc Triều Tiên, cung cấp cho Bình Nhưỡng một cơ hội mới để giải quyết vấn đề hạt nhân và các vấn đề khác. Tuy nhiên, khi chính phủ Kim Jong-un sửa đổi hiến pháp của Bắc Triều Tiên với một điều khoản tuyên bố rằng "CHDCND Triều Tiên là một quốc gia hạt nhân" vào tháng Tư năm 2012 và do đó gây rối rắm cho bất kỳ thảo luận nào khác trong việc quay trở lại chương trình hạt nhân của nó, một sự phát triển như vậy là không thể. Cho đến gần đây, Bình Nhưỡng chỉ chuẩn bị để thảo luận về sự công nhận chính thức nó như là một cường quốc hạt nhân để đổi lấy lời hứa không tiến hành thử nghiệm hạt nhân. Về phần mình, Bắc Triều Tiên tiếp tục cố gắng chơi trò dùng 'con bài Nga' để chống Mỹ, Hàn Quốc và Trung Quốc hầu nhận được viện trợ kinh tế nhiều hơn từ cả bốn quốc gia và để giảm bớt áp lực từ các biện pháp trừng phạt. Nga biết nên tránh rơi vào cái bẫy này căn cứ vào lập trường của mình về nhu cầu giải trừ hạt nhân của Bắc Triều Tiên.

Nếu khủng hoảng trong quan hệ giữa Nga với phương Tây không được giải quyết, các quỹ đạo tiêu cực của quan hệ giữa Nga với Nhật Bản và Hàn Quốc sẽ trở thành một xu hướng dài hạn. Nếu cuộc khủng hoảng được giải quyết, những yếu tố dẫn đến sự suy thoái quan hệ Nga-Nhật Bản và quan hệ Nga-Hàn Quốc sẽ được loại bỏ. Trong hoàn cảnh này, một quá trình chậm chạp trong việc khôi phục đối thoại chính trị giữa Nga và Nhật Bản sẽ diễn ra và dòng vốn của Nhật Bản sẽ bắt đầu nhập lại vào thị trường Nga trong một nỗ lực để phục hồi các tổn thất đã phát sinh trong thời gian quan hệ song phương nguội lạnh.

Thậm chí nếu cuộc khủng hoảng Ukraine vẫn tiếp tục, Nga và Nhật Bản sẽ giữ lại các ưu đãi truyền thống của họ để phát triển quan hệ song phương. Nga sẽ cần Nhật Bản để đối trọng ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc trong nền kinh tế Nga. Nhật Bản sẽ tiếp tục tìm kiếm sự ủng hộ của Nga trong các tranh chấp lãnh thổ và lịch sử của nó với Trung Quốc. Đồng thời, tình hình mới sẽ làm nhẹ đi động lực truyền thống của Nga trong trò chơi dùng 'con bài Nhật Bản' chống lại ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc tại Nga, khi Trung Quốc hiện đang được nhận thức như là thay thế chính cho phương Tây, trong ánh sáng các biện pháp trừng phạt chiến tranh đang diễn ra.

Phát triển hội nhập kinh tế khu vực của vùng Viễn Đông Nga

Nhiệm vụ phát triển kinh tế của miền Viễn Đông Nga và Đông Siberia định hướng nhiều cam kết kinh tế của Nga với khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Phần này của đất nước có những nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú nhưng với một dân số nhỏ trải rộng trên một vùng lãnh thổ rộng lớn. Các nhà hoạch định chính sách của Nga tin rằng có một nhu cầu cho đầu tư tư nhân đáng kể để phát triển và hiện đại hóa các khu vực này. Họ cũng tin rằng không thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển vùng Viễn Đông Nga mà không cần hợp tác với các nước hàng đầu ở châu Á-Thái Bình Dương để thu hút các nguồn lực tài chính và năng lực kinh doanh của họ.

Sau khi Liên Xô sụp đổ, chính phủ Nga đã cố gắng tăng cường phát triển kinh tế và cải thiện điều kiện xã hội ở vùng Viễn Đông. Kết quả là, Moscow đã tìm cách thu hút đầu tư nước ngoài vào khu vực để phát triển kinh tế địa phương, đặc biệt trong lĩnh vực dầu khí. Các dự án phát triển dầu và khí đốt Sakhalin-1 và Sakhalin-2 , bắt đầu từ giữa những năm 1990, là những ví dụ của sự hợp tác thành công với các đối tác quốc tế. Sau đó, Nga nhằm đa dạng hóa xuất khẩu bao gồm nhiều lĩnh vực giá trị gia tăng, chẳng hạn như sản xuất và dịch vụ. Chính phủ Nga cũng tìm cách mời các nhà sản xuất ô tô châu Á, sản xuất nông nghiệp và các ngành dịch vụ thành lập các doanh nghiệp liên doanh ở vùng Viễn Đông.

Việc chuẩn bị cho hội nghị thượng đỉnh APEC 2012 tại Vladivostok dẫn đến việc xem xét tư thế hiện tại và chiến lược lâu dài của Nga trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Nó cũng buộc chính phủ phải chú ý nhiều hơn đến nhu cầu kinh tế của vùng Viễn Đông. Với đầu tư công cộng quy mô lớn trong phát triển cơ sở hạ tầng tại Vladivostok cho chính hội nghị thượng đỉnh đó, Moscow dự định làm cho thành phố và các khu vực gần đó hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư châu Á tiềm năng.

Hôm nay, Viễn Đông đóng góp vào sự tham gia của Nga ở khu vực trong hai cách. Thứ nhất, Nga nhắm vào nhu cầu của nền kinh tế châu Á về dầu và khí đốt để theo đuổi phát triển hydrocarbon ở Đông Siberia và Viễn Đông, cái mà đòi hỏi đầu tư quy mô và bí quyết công nghệ để đưa ra thị trường. Thứ hai, Nga mong muốn vùng Viễn Đông phục vụ như là một hành lang quá cảnh ngang qua các vùng đất mênh mông của lục địa Á-Âu, cầu nối châu Á và châu Âu. Tuy nhiên, mục tiêu này sẽ vẫn còn là khát vọng cho đến khi nào Nga xây dựng các cơ sở hạ tầng cần thiết để làm cho nó trở thành hiện thực.

Như đã nói ở trên, ban đầu Nga đã không tham gia các cuộc đàm phán TPP. Thật vậy, TPP không đặc biệt hấp dẫn đối với Nga, chủ yếu là bởi vì đất nước đã bị hạn chế các liên kết đến các chuỗi cung ứng và thị trường dịch vụ cao cấp của khu vực. Do tính chất của cơ chế thương mại và đầu tư ở Nga và các nước đối tác của nó, các thỏa thuận song phương sẽ có hiệu quả hơn trong việc thúc đẩy thương mại.

Các quan chức Nga đã bày tỏ lo ngại rằng TPP sẽ làm suy yếu WTO cũng như làm gia tăng những căng thẳng địa chính trị trong khu vực, đặc biệt là vì cơ chế này không bao gồm Trung Quốc. Nhưng đồng thời, y như là với các quan chức Trung Quốc, các quan chức Nga cũng bày tỏ sự quan tâm đến cơ chế thương mại này. Thật vậy, việc nghiên cứu nỗ lực mới này để tạo ra một không gian kinh tế thống nhất hơn và hài hòa hơn trong khu vực, chắc chắn là hữu ích và cần thiết cho nước Nga. Nếu như Nga cần phát triển một ngành xuất khẩu liên quan đến dây chuyền sản xuất châu Á, Moscow có thể xem xét tham gia cơ chế, mặc dù những rào cản gia nhập có thể vẫn còn quá cao.

Mặc dù loại trừ Nga khỏi các cuộc đàm phán ban đầu, TPP không phải là một thỏa thuận chống Nga. Hơn nữa, nó không tạo ra một cơ quan quản lý siêu quốc gia như EU, một bước mà Nga sẽ phản đối về nguyên tắc. Trong mọi trường hợp, các dự án đa phương khác nhau nhằm tự do hóa cơ chế thương mại và đầu tư và làm sâu sắc hơn sự hội nhập kinh tế trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, bao gồm cả TPP, đòi hỏi sự chú ý của các nhà hoạch định chính sách đối ngoại của Nga để hiểu các kịch bản có thể có cho phát triển trong tương lai.

Đông Nam Á

Chính sách của Nga đối với khu vực Đông Nam Á được thúc đẩy bởi ba ưu tiên quan hệ với nhau. Thứ nhất, Moscow nhằm mục đích đa dạng hóa các cam kết của mình trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương để bảo đảm rằng "bước ngoặt về phía Đông" không phải chỉ duy nhất là một bước ngoặt về phía Trung Quốc. Thứ hai, Nga tìm cách củng cố vị trí trung tâm của ASEAN như là môi giới ngoại giao trong khu vực. Thứ ba, Nga đang cố gắng tận dụng các nền kinh tế đang bùng nổ của khu vực Đông Nam Á để giúp phát triển EEU (liên minh kinh tế Á-Âu ) để phòng vệ trước các mối quan hệ ngày càng xấu đi của mình với phương Tây.

Nga tìm cách mở rộng và làm sâu sắc thêm các mối quan hệ song phương trong khu vực, đặc biệt là với Việt Nam, đối tác quan trọng nhất của nó ở đó và là một khách hàng lớn của ngành công nghiệp quân sự của Nga. Việt Nam là quốc gia đầu tiên ký FTA với EEU, vào ngày 29 tháng 5 năm 2015. Nga là thành viên của các nền tảng đối thoại đa phương do ASEAN lãnh đạo, trong đó có Diễn đàn Khu vực ASEAN và Hội nghị các Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN +. Nga coi việc tham gia vào các diễn đàn do ASEAN lãnh đạo như một công cụ để tăng cường tầm vóc toàn cầu của mình.

Tranh chấp lãnh thổ và an ninh hàng hải trong khu vực

Biển Đông phủ bóng lớn trong những ưu tiên của Nga tại khu vực Đông Nam Á. Hai đối tác chính của Nga ở Châu Á-Thái Bình Dương và là những nước mua vũ khí quan trọng của nó - Trung Quốc và Việt Nam - có những xung đột đáng kể chung quanh tuyên bố của họ ở vùng Biển. Các công ty năng lượng của Nga cũng có các hoạt động trong vùng biển Đông. Ưu tiên của Nga là duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực. Giả sử một cuộc xung đột nghiêm trọng diễn ra, Nga có thể bị buộc phải đứng về phía nào đó, một tình huống nó rất muốn tránh.

Chính sách chính thức của Nga tuyên bố rằng các tranh chấp lãnh thổ nên được giải quyết song phương và trên cơ sở luật pháp quốc tế. Nga không ủng hộ những hành động của Trung Quốc ở Biển Đông. Đồng thời, các quan chức Nga nói rằng đúng là cần thiết để phát triển một cơ sở cho việc xây dựng lòng tin giữa các bên xung đột, kêu gọi phát triển các cơ chế đối thoại để ngăn chặn sự leo thang chứ không phải là một phản ứng cưỡng chế. Quan điểm chính thức của Nga đã được tiếp tục nêu trong Tuyên bố chung Thúc đẩy sự tiến bộ của các đối tác chiến lược toàn diện năm 2014 giữa Liên bang Nga và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Moscow và Hà Nội nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ Luật Biển và Tuyên bố về ứng xử ở Biển Đông năm 2002, và kêu gọi thông qua một quy tắc ứng xử cho Biển Đông.



-------------------------------------|||----------------------------------


1    2    3